- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Nguyễn Thị Thu T - Nguyễn Thị Thanh T1"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thu T.
- Căn cứ chính? Điều 10 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn t…; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2025/QĐST-LĐ | TP. Thái Bình, ngày 23 tháng 01 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh
Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên họp: Ông Bùi Quốc Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 35/2024/TLST-LĐ ngày 12 tháng 12 năm 2024 về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2025/QĐ-MPH ngày 13 tháng 01 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn B, xã A, huyện K, tỉnh Thái Bình.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2.1. Bảo hiểm xã hội tỉnh T;
Địa chỉ: Số G, đường L, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
2.2. Chị Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1987;
Nơi cư trú: Thôn B, xã A, huyện K, tỉnh Thái Bình.
(Các đương sự đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và bản tự khai, chị Nguyễn Thị Thu T trình bày:Vào thời gian từ tháng 8/2009 đến tháng 02/2011 chị có mượn chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Thị Thanh T1 ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH E và tham gia bảo hiểm xã hội với tên Nguyễn Thanh T1, số sổ 3409006718 nhưng trong khoảng thời gian trên chị T1 cũng đang làm việc cho Công ty khác trên địa bàn tỉnh Thái Bình và cũng tham gia bảo hiểm xã hội bị trùng, nhưng trên thực tế chị mới là người ký hợp đồng và làm việc trực tiếp tại Công ty TNHH E thời điểm ký kết hợp đồng trên chị chưa đủ tuổi lao động nên chị nhận thấy việc ký kết giữa chị và Công ty là vi phạm nguyên tắc trung thực nên ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi ích hợp pháp của chị Nguyễn Thị Thanh T1. Nay chị yêu cầu giải quyết những vấn đề sau: Tuyên bố hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động có tên Nguyễn Thị Thanh T1 do chị Nguyễn Thị Thu T ký kết với Công ty TNHH E trong khoảng thời gian từ tháng 8/2009 đến tháng 02/2011 là vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật. Do Công ty E đã phá sản nên chị đã được bảo hiểm xã hội cho hưởng một lần với số tiền 3.939.633 đồng và chị đã nhận đủ số tiền trên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Bảo hiểm xã hội tỉnh T trình bày: Thời gian đóng bảo hiểm xã hội của chị Nguyễn Thị Thanh T1 từ tháng 8/2009 đến tháng 02/2011 tại Công ty TNHH E theo sổ bảo hiểm xã hội số 3409006718 là 01 năm 07 tháng BHXH (đã hưởng bảo hiểm xã hội một lần). Việc chị Nguyễn Thị Thu T trình bày mượn hồ sơ của chị Nguyễn Thị Thanh T1 để giao kết hợp đồng lao động và đóng bảo hiểm xã hội. Nay bà T đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng ký kết giữa chị T (nhưng lấy tên Nguyễn Thị Thanh T1) với Công ty TNHH E trong khoảng thời gian từ tháng 8/2009 đến tháng 02/2011 vô hiệu, BHXH đề nghị giải quyết theo pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thanh T1 trình bày: Vào khoảng thời gian từ tháng 8/2009 đến tháng 02/2011 chị có cho chị Nguyễn Thị Thu T mượn chứng minh nhân dân để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH E và tham gia với tên Nguyễn Thị Thanh T1 số sổ 3409006718 nhưng khoảng thời gian trên chị Nguyễn Thị Thanh T1 cũng đang làm việc cho Công ty khác trên địa bàn Thái Bình và cũng tham gia bảo hiểm xã hội nên bị trùng. Thực tế chị cũng tham gia bảo hiểm xã hội với Công ty M với số sổ 34091106. Trong thời gian này chị T mới là người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH E. Do hiện nay trên hệ thống tồn tại hai sổ BHXH mang tên chị là số sổ 3409011061 và số sổ 3409006718 nên chị không làm thủ tục hưởng chế độ bảo hiểm một lần. Việc chị T yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động có tên Nguyễn Thị Thanh T1 do chị Nguyễn Thị Thu T ký kết với Công ty TNHH E trong khoảng thời gian từ tháng 8/2009 đến tháng 02/2011 là vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật, chị hoàn toàn đồng ý nhất trí.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự và đề nghị:
Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình căn cứ vào Điều 33, điểm v khoản 2 Điều 39, Điều 402 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 127 Bộ luật Dân sự; Điều 50 Bộ luật Lao động năm 2012; Điều 15, Điều 50, Điều 51 Bộ luật Lao động 2019, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thu T, đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa chị Nguyễn Thị Thu T (bằng tên của chị Nguyễn Thị Thanh T1) và Công ty TNHH E trong thời gian từ tháng 8/2009 đến tháng 02/2011 vô hiệu, giao cho các cơ quan chức năng có liên quan điều chỉnh hồ sơ cho phù hợp để đảm bảo, giải quyết quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động. Chị Nguyễn Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu gửi đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người lao động ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH E, có địa chỉ trước khi chấm dứt hoạt động tại Khu công nghiệp N, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Căn cứ điểm v khoản 2 Điều 39, Điều 401 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
[2]. Áp dụng pháp luật: Do hợp đồng lao động ký giữa Công ty TNHH E và chị Nguyễn Thị Thanh T1 (do chị Nguyễn Thị Thu T ký) vào năm 2009 nên áp dụng Bộ luật Lao động năm 1994 để giải quyết. Tuy nhiên Bộ luật Lao động năm 1994 không có điều luật quy định về hợp đồng lao động vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng lao động vô hiệu, do đó cần áp dụng Bộ luật Lao động năm 2012 và Bộ luật Lao động năm 2019 để giải quyết.
. Về nội dung:
. Xét thấy việc chị Nguyễn Thị Thu T mượn giấy tờ của chị Nguyễn Thị Thanh T1 để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH E là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Bộ luật Lao động năm 2012, khoản 1 Điều 15 Bộ luật Lao động năm 2019 và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Bộ luật Lao động năm 2012, khoản 2 Điều 16 Bộ luật Lao động năm 2019. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 Bộ luật Lao động năm 2019, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ, do đó yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thu T là có căn cứ, chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thu T, tuyên bố hợp đồng lao động đã ký kết giữa Công ty TNHH E và chị Nguyễn Thị Thanh T1 (do chị Nguyễn Thị Thu T ký) trong thời gian từ tháng 8 năm 2009 đến tháng 02 năm 2011 là vô hiệu toàn bộ.
. Đối với yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu: Căn cứ khoản 2 Điều 51 Bộ luật Lao động 2019, Điều 10 Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ: Xét thấy mặc dù có sự lừa dối khi ký kết hợp đồng lao động giữa chị Nguyễn Thị Thu T (hồ sơ mượn tên chị Nguyễn Thị Thanh V) với Công ty TNHH E nhưng trên thực tế chị T có làm việc tại Công ty, có đóng bảo hiểm xã hội và quá trình làm việc Công ty có đóng bảo hiểm cho chị T (mang tên chị Nguyễn Thị Thanh T1, số sổ bảo hiểm xã hội 3409006718). Khi chị T nghỉ việc đã được cơ quan bảo hiểm xã hội trả trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần đối với thời gian làm việc và đóng bảo hiểm tại Công ty, số tiền trợ cấp là 3.939.633 đồng. Về phía cơ quan bảo hiểm xã hội cũng không có yêu cầu cụ thể về việc chị Nguyễn Thị Thu T phải thoái thu số tiền đã đóng bảo hiểm xã hội. Do đó, cần giao cho các cơ quan chức năng có liên quan đến hợp đồng lao động đã ký giữa chị Nguyễn Thị Thanh T1 (do chị Nguyễn Thị Thu T ký) với Công ty TNHH E điều chỉnh hồ sơ cho phù hợp để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động. Do vậy cần điều chỉnh tên Nguyễn Thị Thanh T1 trên sổ bảo hiểm xã hội số 3409006718 thành Nguyễn Thị Thu T. Chị Nguyễn Thị Thu T và chị Nguyễn Thị Thanh T1 có quyền liên hệ với Bảo hiểm xã hội tỉnh T để làm thủ tục điều chỉnh thông tin từ Nguyễn Thị Thanh T1 thành Nguyễn Thị Thu T.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 33, điểm v khoản 2 Điều 39, Điều 401, Điều 402, Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; khoản 1 Điều 17, khoản 2 Điều 19, Điều 50 Bộ luật Lao động năm 2012; khoản 1 Điều 15, khoản 2 Điều 16, điểm b khoản 1 Điều 49, Điều 50, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019, Điều 10 Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thu T.
1. Tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty TNHH E và chị Nguyễn Thị Thanh T1 (do chị Nguyễn Thị Thu T ký) trong thời gian từ tháng 8/2009 đến tháng 02/2011 là vô hiệu toàn bộ.
2. Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Điều chỉnh thông tin nhân thân số sổ bảo hiểm xã hội 3409006718, từ Nguyễn Thị Thanh T1, sinh ngày 20 tháng 3 năm 1987, số Chứng minh nhân dân xxxxxxxxx do Công an tỉnh T cấp ngày 07/5/2001 thành Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 21 tháng 4 năm 1992, Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 10/4/2021. Chị Nguyễn Thị Thanh T1 và chị Nguyễn Thị Thu T có quyền liên hệ với Bảo hiểm xã hội tỉnh T để làm thủ tục điều chỉnh thông tin nhân thân từ Nguyễn Thị Thanh T1 thành Nguyễn Thị Thu T.
3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị T đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000818 ngày 12 tháng 12 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình thành tiền lệ phí.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Chị Nguyễn Thị Thu T, chị Nguyễn Thị Thanh T1, Bảo hiểm xã hội tỉnh T có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định này.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Người tham gia tố tụng; - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Thanh |