- Tranh chấp gì? "Nguyễn Thanh L bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh T1 tại Cơ sở cai nghiện ma túy số F, thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 Thành lập Tòa án nhân dân cấp…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2025/QĐ-TA | TP. Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 7 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Trần Thanh T.
2. Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Ngọc Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11, thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 15 tháng 7 năm 2025, tại điểm cầu Tòa án nhân dân khu vực 11, thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu Cơ sở cai nghiện ma túy số 6, thành phố Hồ Chí Minh tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 04/QĐ-TA ngày 04 tháng 7 năm 2025 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1982 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là thành phố Hồ Chí Minh); Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Không; Nguyên quán: Ninh Bình; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Số D T, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường V, TP .); Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Con ông Nguyễn Mai K và bà Nguyễn Thị T2.
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Nguyễn Thị Hoàng Y - Trưởng Công an phường T, thành phố Hồ Chí Minh.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11, thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Việt Chinh - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Nguyễn Thanh T1 sử dụng ma túy Methamphetamine từ năm 2021. Ngày 05/5/2025, Công an phường G, thành phố V (nay là phường T, thành phố Hồ Chí Minh) tiến hành xét nghiệm và lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời phối hợp cùng Cơ quan y tế Phường G, thành phố V (nay là phường T, thành phố Hồ Chí Minh) theo dõi xác định tình trạng nghiện, xác định Nguyễn Thanh T1 là người nghiện ma túy, Nguyễn Thanh T1 không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên Công an phường G, thành phố V (nay là phường T, thành phố Hồ Chí Minh) lập hồ sơ đề nghị đưa Nguyễn Thanh T1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định.
Tại phiên họp:
- Người bị đề nghị Nguyễn Thanh T1 thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình và khai nhận đã sử dụng ma túy từ năm 2021 cho đến nay. Trước đây, Nguyễn Thanh T1 bị tai nạn giao thông nhưng đến nay có đủ sức khỏe, tinh thần sáng suốt, minh mẫn. Sau khi được thông báo tình trạng nghiện ma túy, Nguyễn Thanh T1 đã từ chối cai nghiện tự nguyện, xác nhận không có ý kiến gì về thành phần hồ sơ và giữ nguyên ý kiến không đăng ký cai nghiện tự nguyện.
- Ý kiến đại diện cơ quan đề nghị: Ngày 05/5/2025, Nguyễn Thanh T1 bị Công an G, thành phố V (nay là Phường T, thành phố Hồ Chí Minh) lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Theo tài liệu có trong hồ sơ, Nguyễn Thanh T1 khai sử dụng ma túy Methamphetamine từ năm 2021 đến nay; Qua kết luận xác định tình trạng nghiện ma túy xác định, Nguyễn Thanh T1 là người nghiện ma túy, Nguyễn Thanh T1 không đăng ký cai nghiện tự nguyện thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, trên cơ sở đó, tại phiên họp Trưởng Công an Phường T, thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc đối với Nguyễn Thanh T1 với thời gian là 12 tháng.
- Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11, thành phố Hồ Chí Minh:
Về tố tụng:
+ Trình tự thủ tục lập hồ sơ đề nghị: Cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành lập hồ sơ đề nghị theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm Hành chính và Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
+ Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định Pháp lệnh số 03/2021/UBTVQH15 ngày 13/12/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Về nội dung: Nguyễn Thanh T1 khai sử dụng ma túy từ năm 2021, theo Phiếu xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm Y tế P (nay là phường T, thành phố Hồ Chí Minh) kết luận Nguyễn Thanh T1 nghiện ma túy, Nguyễn Thanh T1 không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Căn cứ Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 32 Luật phòng chống ma túy, Nguyễn Thanh T1 thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc. Xét thấy việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc đối với người bị nghiện là cần thiết. Do vậy, đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của đại diện cơ quan đề nghị, xem xét tính chất mức độ vi phạm quyết định mức thời gian đưa Nguyễn Thanh T1 vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc từ 12 đến 15 tháng.
XÉT THẤY:
1. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:
Thời hiệu giải quyết: Ngày 05/5/2025, Công an phường G, thành phố V (nay là Phường T, thành phố Hồ Chí Minh) lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 15/7/2025, Tòa án mở phiên họp xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh T1 là còn trong thời hiệu, theo quy định tại Điều 6 Luật Xử lý vi phạm Hành chính.
Thẩm quyền giải quyết: Thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 11, thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính và Điều 3 của Pháp lệnh số 03/2021/UBTVQH15 ngày 13/12/2021 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 về việc thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực.
Trình tự, thủ tục lập hồ sơ: Cơ quan lập hồ sơ đề nghị theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 103 Luật Xử lý vi phạm Hành chính và Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
2. Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm:
Theo lời khai trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp, Nguyễn Thanh T1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình, Nguyễn Thanh T1 là người nghiện ma túy. Tại phiên họp, Nguyễn Thanh T1 khai trước đây từng bị tai nạn giao thông nhưng hiện nay có đủ sức khỏe và tinh thần minh mẫn. Lời khai của Nguyễn Thanh T1 phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nên có cơ sở xác định Nguyễn Thanh T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 05/5/2025 của Trạm y tế P, thành phố V (nay là phường T, thành phố Hồ Chí Minh) kết luận Nguyễn Thanh T1 là người nghiện ma túy, Nguyễn Thanh T1 không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên thuộc trường hợp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính; khoản 49 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 32 Luật phòng, chống ma túy.
3. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Nguyễn Thanh T1 đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính xem xét giảm nhẹ một phần mức thời gian áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
4. Mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng:
Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên họp thể hiện: Nguyễn Thanh T1 biết rõ ma túy là chất gây nghiện, có sức tàn phá đối với sức khỏe, gây ảnh hưởng xấu đến gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm. Đồng thời, Nguyễn Thanh T1 cũng nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình là xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy.
Do đó, cần thiết phải quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh T1 một thời gian tương xứng với hành vi và mức độ vi phạm để cai nghiện, học tập và lao động.
5. Lý do, căn cứ áp dụng:
- Lý do áp dụng: Cơ quan có thẩm quyền đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh T1 là cần thiết để quản lý cắt cơn, giải độc, phục hồi sức khỏe và tư vấn tâm lý. Đồng thời, làm giảm tác hại liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và cộng đồng.
- Căn cứ áp dụng: Căn cứ vào các Điều 27, Điều 32 Luật Phòng chống ma túy, Điều 3, 6, 9, 95, 96, 103, 104, 105, 107 và điểm b khoản 1 Điều 110 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính; khoản 49 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020; Điều 3, 28, 33, 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Điều 2, 3, 19, 20, 22, 23, 24, 30, 31 và 32 Pháp lệnh số 03/2021/UBTVQH15 ngày 13/12/2021 trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Thông tư số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh T1 tại Cơ sở cai nghiện ma túy số F, thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ: Ấp P, xã H, thành phố Hồ Chí Minh.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị: Người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an phường T, thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Người bị áp dụng; - Ủy ban nhân dân và Công an phường Tam Thắng; - VKSND khu vực 11, TP.HCM; - TAND thành phố Hồ Chí Minh; - Cơ sở cai nghiện ma túy số 6, Tp. HCM; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. | THẨM PHÁN Trần Thanh Túy |