- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trương Thị N xin ly hôn anh Hồ Đức T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Hồ Đức T và chị Trương Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2023/QĐST-HNGĐ | Hà Tĩnh, ngày 30 tháng 01 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Thu Hiền
Thư ký phiên họp: Bà Trương Thị Minh Hiền
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Quyết - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 247/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2022 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, Theo Quyết định mở phiên họp số 02/2023/QĐ-TA ngày 16/01/2023 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
1. Chị Trương Thị N; SN 1991
Địa chỉ: SN 02, ngõ 8, Đ. Đồng Quế, P Nam Hà, TP. Hà Tĩnh, tỉnh Hà
Tĩnh, xin vắng mặt.
2. Anh Hồ Đức T; SN 1982
Nơi ĐKNKTT trước khi xuất cảnh: Khối phố 3, Phường Đại Nài, thành
phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh (Hiện đang lao động tại Hàn Quốc). Xin vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai của chị Trương Thị N và ý kiến trình bày của anh Hồ Đức T, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị N và anh Hồ Đức T tự do tìm hiểu trên cơ sở hai bên tự nguyện, không bị ai ép buộc và đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn ngày 09/11/2016 tại UBND Phường Đại Nài, thành phố Hà Tĩnh. Cuộc sống chung sau khi cưới kéo dài được khoảng hơn một tháng thì anh T sang Hàn Quốc làm việc còn chị N ở nhà nuôi con. Thời gian đầu mới sang anh cũng thường xuyên gọi điện về cho chị nhưng hai bên thường xảy ra cãi vã. Sau đó vì vợ chồng mâu thuẫn nên anh ít gọi về, mỗi lần gọi hai vợ chồng lại xẩy ra bất hòa. Lần về nước gần đây nhất là con được 3 tháng tuổi, từ năm 2019 đến nay chưa về nước lần nào. Khoảng 3 năm trở lại đây anh T không liên lạc với chị N, anh chỉ gọi điện cho con và bố mẹ đẻ của anh.
Vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn, lại có nhiều mâu thuẫn không thể hòa giải được và hiện tại vợ chồng cắt đứt liên lạc hoàn toàn. Chị N thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn nữa nên làm đơn xin ly hôn. Vợ chồng anh T chị N không còn quan tâm nhau và không mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân nên thống nhất thuận tình ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Hồ Hoàng Y, Sinh ngày 26/6/2017. Vợ chồng thỏa thuận giao con cho chị N chăm sóc nuôi dưỡng, vấn đề phải cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Chị N trình bày không biết địa chỉ cụ thể của anh T tại Hàn Quốc mà chỉ biết anh T thường gọi điện về cho bố mẹ anh ở phường Đại Nài, TP. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Chị đề nghị Tòa án thu thập địa chỉ của anh T qua gia đình anh T.
Do điều kiện công việc nên anh T không thể về Việt Nam để trực tiếp giải quyết việc ly hôn nên anh yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết việc ly hôn và ủy quyền cho bố là ông Hồ Xuân Đ; Trú tại: phường Đại Nài, TP. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh giao nhận tài liệu, chứng cứ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 51, 55, 81, 82, 83, 84, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp; Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:
Thủ tục tố tụng:
Anh Hồ Đức T hiện đang lao động tại Hàn Quốc. Theo công văn số 22457/QLXNC- P5 26/10/2022 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh thì anh Hồ Đức T đã xuất cảnh năm 2011, đã xuất nhập cảnh nhiều lần và lần gần đây nhất xuất cảnh năm 2019 hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 29, Điều 37, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tuy anh T thường liên lạc với gia đình tại khối 3 phường Đại Nài, TP. Hà Tĩnh nhưng cố tình không cung cấp địa chỉ của anh hiện nay ở nước ngoài. Gia đình anh vẫn liên lạc với anh nên đã đồng ý nhận các văn bản tố tụng để thông báo cho anh T. Vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Quá trình giải quyết việc hôn nhân gia đình, vì điều kiện công việc anh Hồ Đức T không thể về Việt Nam được nên anh đề nghị giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho bố là ông Hồ Xuân Đ giao nhận các tài liệu. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt việc anh Hồ Đức T theo thủ tục chung
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: anh Hồ Đức T và Trương Thị N đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn vào ngày 09/11/2016 tại UBND Phường Đại Nài, thành phố Hà Tĩnh. Căn cứ quy định Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung được 1 tháng thì anh T đi lao động tại Hàn Quốc. Quá trình đi anh có về nước vài lần, lần về nước gần đây nhất là năm 2019, từ đó đến nay anh T chưa về nước lần nào. Vợ chồng không có điều kiện chung sống, không được gần gũi nhau nên phát sinh nhiều mâu thuẫn, không tìm thấy tiếng nói chung dẫn đến tình cảm không còn, mục đích xây dựng hạnh phúc gia đình không đạt được. Nay các đương sự đều tự nhận thấy tình cảm không còn và không mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ này.
Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nhưng cuộc hôn nhân của anh T và chị N không đạt được mục đích đó.
Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn của họ để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.
Như vậy, anh Hồ Đức T và chị Trương Thị N đã tự nguyện thỏa thuận ly hôn. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, công nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Hồ Hoàng Y, Sinh ngày 26/6/2017. Vợ chồng thỏa thuận giao con cho chị N chăm sóc nuôi dưỡng, vấn đề phải cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Trương Thị N.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, 55, 81, 82, 83, 84, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 361, 367, 369, 370, 371, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Hồ Đức T và chị Trương Thị N.
2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận giao con chung là Hồ Hoàng Y, Sinh ngày 26/6/2017 cho chị Trương Thị N chăm sóc nuôi dưỡng đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Trương Thị N (đã nộp 300.000đ tại biên lai số 0000400 ngày 22/11/2022 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh).
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Quyết định này có hiệu lực pháp luật Ny sau khi ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận - TAND cấp cao; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh; - UBND P. Đại Nài; - Đương sự ; - Lưu HS, TDS. | THẨM PHÁN- CHỦ TRÌ PHIÊN HỌP Trần Thị Thu Hiền |