vanban.org

Quyết định 03/2025/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lù Pó L tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lai Châu.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Người bị đề nghị Lù Pó Lu có quyền khiếu nại, Công an xã T, tỉnh Lai Châu có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân khu vự… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "QDXLHC"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lù Pó L tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lai Châu.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 11 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2025/QĐ - TALai Châu, ngày 12 tháng 9 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán: Ông Đồng Văn D

Thư ký phiên họp: Bà Thào Thị Nhung

Ngày 12 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định mở phiên họp số: 05/2025/QĐ - TA ngày 09 tháng 9 năm 2025 đối với:

Họ và tên: Lù Pó L, sinh ngày 01/01/1996; tên gọi khác: Không; Số Căn cước công dân 012096004175; Cấp ngày 16/01/2024; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ C; Giới tính: Nam; Dân tộc: Hà Nhìn; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Quê quán: xã T, tỉnh Lai Châu. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: bản Lé Ma, xã T, tỉnh Lai Châu. Con ông: Lù Xè L1, đã chết và con bà: Lỳ Xù D1, sinh năm 1968.

Tiền án, tiền sự: Không.

Người bị đề nghị: Lù Pó L (có mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Sừng Xè X - Trưởng Công an xã T, tỉnh Lai Châu. Có mặt.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu: Ông Đỗ Hoàng Giang - Kiểm sát viên. Có mặt.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại tòa án và diễn biến phiên họp thì nội dung sự việc được tóm tắt như sau:

Về hành vi vi phạm của người bị đề nghị:

Bản thân Lù Pó Lu sử dụng ma túy từ năm 2020 bằng hình thức hít.Đến ngày 04/03/2025 Công an xã K (cũ) nay là Công an xã T đã yêu cầu L viết bản tường trình về hành vi sử dụng ma túy, đến ngày 05/03/2025 Công an xã K (cũ) nay là Công an xã T tiến hành lập biên bản vi phạm về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và thông báo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, kết quả Lù Pó Lu dương tính với ma túy. Cùng ngày Ủy ban nhân dân xã K (cũ) nay là Ủy ban nhân dân xã T ra quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy và Công an xã K (cũ) nay là Công an xã T đã có kế hoạch quản lý đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, tuy nhiên trong quá trình chấp hành quyết định quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy của Ủy ban nhân dân xã K (cũ) nay là Ủy ban nhân dân xã T, L vẫn lén lút sử dụng trái phép chất ma túy với hình thức hít. Ngày 25/8/2025, yêu cầu L viết bản tường trình về hành vi lén lút sử dụng trái phép chất ma túy và đã lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực phòng chống tệ nạn xã hội đồng thời đề nghị Trạm y tế xã T xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Lù Pó L. Tại phiếu trả lời kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 27/8/2025 của Trạm Y tế xã T xác định: Lù Pó Lu nghiện ma túy (loại Heroine). Công an xã T thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy cho L và tuyên truyền, giải thích quyền, nghĩa vụ trách nhiệm đăng ký cai nghiện tự nguyện của người nghiện ma túy cho L theo quy định tại Điều 28 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Đến ngày 08/9/2025, sau khi xác định L không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định, Công an xã T đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện…đồng thời thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lù Pó L. Sau khi lập biên bản xác nhận về việc quản lý người nghiện ma túy đối với gia đình của Lù Pó L, Công an xã T đã ban hành quyết định quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L. Ngày 09/9/2025, Công an xã T, tỉnh Lai Châu đã ban hành Văn bản số 43/ĐN-CAX đề nghị xem xét hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lù Pó L.

Tại phiên họp, Đại diện cơ quan đề nghị có ý kiến: Đối tượng Lù Pó Lu là người nghiện ma túy thường xuyên, mặc dù đã được thông báo tình trạng nghiện ma túy và được giải thích rõ về việc đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc đăng ký điều trị các dạng chất thuốc phiện bằng thuốc thay thế nhưng Lù Pó Lu không thực hiện, vi phạm điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2012. Đề nghị Toà án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lù Pó L tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lai Châu với thời gian từ 12 tháng đến 18 tháng.

Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Lù Pó L tại phiên họp thừa nhận: Bản thân nghiện ma túy từ năm 2020, loại ma túy sử dụng là Heroine, sử dụng bằng hình thức hít, lần sử dụng gần nhất là ngày 03/03/2025. Sau khi được Trạm y tế xã Thu L2 xác nhận Lu nghiện ma túy (loại heroine) và được Công an xã T tuyên truyền, vận động đăng ký cai nghiện tự nguyện, L không đăng ký hình thức cai nghiện tự nguyện nào. Lu không có ý kiện hay khiếu nại gì về việc Công an xã T thông báo lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Lù Pó L có nguyện vọng được đi cai nghiện ma túy để được cai nghiện và trở thành công dân có ích cho xã hội với thời gian cai nghiện là 18 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, việc đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lù Pó L đảm bảo đúng của quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, Luật Phòng chống ma túy và Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp Xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ, Thông tư 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025. Hồ sơ đảm bảo, đầy đủ. Phiên họp diễn ra đúng quy trình và tuân theo pháp luật. Người bị đề nghị Lù Pó L đã được đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Công an xã T, tỉnh Lai Châu và xem xét đưa người bị đề nghị vào Cơ sở cai nghiện tỉnh Lai Châu với thời hạn từ 12 đến 18 tháng.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp trên Cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, các ý kiến của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị, Kiểm sát viên,

XÉT THẤY:

. Về trình tự, thủ tục: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Công an xã T, tỉnh Lai Châu đối với người bị đề nghị là Lù Pó L đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 7, 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025, Điều 40, 41, 44 của Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

. Về hành vi vi phạm: Tại phiên họp Lù Pó L thừa nhận hành vi vi phạm của mình như bản tường trình ngày 04/03/2025 và ngày 25/8/2025, việc L thừa nhận bản thân nghiện ma túy phù hợp với Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 27/8/2025 của Trạm y tế xã Thu Lũm đối với Lù Pó L. Tuy nhiên, sau khi được Công an xã T giải thích về quyền, nghĩa vụ trách nhiệm đăng ký cai nghiện tự nguyện Lu lại không đăng ký hình thức cai nghiện tự nguyện nào. Nên ngày 08/9/2025 Công an xã T lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện đối với L là đảm bảo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ - CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Lù Pó L là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hành chính. Nên ngày 08/9/2025 Công an xã T, tỉnh Lai Châu thông báo lập hồ sơ đề nghị xem xét đưa L vào cơ cai nghiện bắt buộc là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật phòng chống ma túy năm 2021, điều luật quy định:

“Điều 32. Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện;”

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi vi phạm, Lù Pó Lu thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi bổ sung năm 2020.

Tình tiết tặng nặng: không có

Xét thấy, với tình trạng hiện nay của người bị đề nghị L Lu việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như đề nghị của Công an xã T, tỉnh Lai Châu và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp là phù hợp.

Vì vậy, để giúp đỡ, giáo dục Lù Pó L có điều kiện cai nghiện thành công, rèn luyện để trở thành công dân khỏe mạnh, trở về tái hòa nhập cộng đồng tốt hơn dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc:

Căn cứ Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, 105, 107, 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi bổ sung một số điều năm 2020;

Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021;

Căn cứ Điều 3, 5, 23, 24, 25, 31 và 32 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 33, Điều 40, 41, 44 của Nghị định 116/2021/NĐ - CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Căn cứ Điều 7, 8, 11 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lù Pó L tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lai Châu.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

3. Người bị đề nghị Lù Pó Lu có quyền khiếu nại, Công an xã T, tỉnh Lai Châu có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Người bị đề nghị, Công an xã T, tỉnh Lai Châu thi hành quyết định này./.

THẨM PHÁN Nơi nhận:

- VKSND khu vực 4 - Lai Châu;

- Người bị đề nghị;

- Công an xã Thu Lũm;

- Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lai Châu;

- Lưu hồ sơ.

Đồng Văn Dũng

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 33, Điều 40, 41, 44 của Nghị định 116/2021/NĐ - CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Căn cứ Điều 7, 8, 11 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

6. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lù Pó L tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lai Châu.

7. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

8. Người bị đề nghị Lù Pó Lu có quyền khiếu nại, Công an xã T, tỉnh Lai Châu có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

9. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

10. Người bị đề nghị, Công an xã T, tỉnh Lai Châu thi hành quyết định này./.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ