- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "L mất năng lực"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố anh Phạm Hoàng H, sinh năm 1972; cư trú tại số 54 C, tổ dân phố số 4, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 23 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2021/QĐDS-ST | Hải An, ngày 06 tháng 5 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn
trong nhận thức, làm chủ hành vi
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Vũ Thị Bích Diệp.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Đức Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Ông Lê Kim Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 61/2020/TLST-DS ngày 31 tháng 12 năm 2020 về yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2021/QĐST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2021/QĐST-DS ngày 29 tháng 4 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Đỗ Thị L; cư trú tại: Số 54 C, tổ dân phố số 4, phường T, quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Ngô Thị Ngọc C; cư trú tại: Số 54 C, tổ dân phố số 4, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
2. Cháu Phạm Minh H; cư trú tại: Số 54 C, tổ dân phố số 4, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
3. Cháu Phạm Bạch D; sinh ngày 31 tháng 01 năm 2006; cư trú tại: Số 54 C, tổ dân phố số 4, phường T, quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của cháu Phạm Bạch D: Chị Đỗ Thị L; cư trú tại: Số 54 C, tổ dân phố số 4, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; là người đại diện theo pháp luật (mẹ đẻ của cháu Phạm Bạch D). Có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Anh Phạm Hoàng H là chồng của chị Đỗ Thị L, là con đẻ của bà Ngô Thị Ngọc C, là cha đẻ của cháu Phạm Minh H và cháu Phạm Bạch D. Theo lời trình bày của chị Đỗ Thị L: Quá trình chung sống, anh Phạm Hoàng H nhiều lần có hành vi bạo lực gia đình, chửi bới, đánh đập, gây tổn hại về sức khỏe và tổn thương về tinh thần cho chị L và các con; nguyên nhân là do anh H bị bệnh tâm thần phân liệt, hiện đang điều trị tâm thần tại gia đình theo phác đồ của Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng. Vì vậy, để bảo vệ bản thân và các con, chị Đỗ Thị L yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Phạm Hoàng H là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi để thực hiện thủ tục ly hôn với anh Phạm Hoàng H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là việc dân sự về yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm yêu cầu, người bị yêu cầu là anh Phạm Hoàng H đang cư trú tại số 54 C, tổ dân phố số 4, phường T, quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị Đỗ Thị L và anh Phạm Hoàng H có quan hệ là vợ chồng; vì vậy, chị Đỗ Thị L có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Phạm Hoàng H là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu của chị Đỗ Thị L: Theo Bệnh án tâm thần tại cộng đồng lập ngày 24 tháng 6 năm 2006 của Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng, anh Phạm Hoàng H có biểu hiện ít ngủ, đau đầu, hay lẩm bẩm cười khóc nói một mình, tính tình thay đổi, xa lánh bạn bè, trầm, hỏi không nói v.v…, chẩn đoán xác định bệnh tâm thần phân liệt, mã số F20.0, tiên lượng xấu. Sau một thời gian điều trị, anh H đã được chuyển về Trạm Y tế phường C (sau này là Trạm Y tế phường T), quận H, thành phố Hải Phòng để quản lý điều trị ngoại trú. Hiện tại anh H vẫn đang điều trị, lấy thuốc tại Trạm Y tế phường T, là dạng thuốc điều trị về tâm thần. Theo Kết luận giám định sức khỏe tâm thần số 32/KLGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2021 của Viện Pháp y Tâm thần Trung ương: Tại thời điểm giám định, anh Phạm Hoàng H bị bệnh tâm thần phân liệt thể Paranoid, theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F20.0, bệnh ở giai đoạn thuyên giảm; anh Phạm Hoàng H hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi (người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi). Từ những căn cứ trên, có đủ cơ sở khẳng định, anh Phạm Hoàng H là người thành niên do tình trạng tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi. Vì vậy, yêu cầu của chị Đỗ Thị L về việc tuyên bố anh Phạm Hoàng H là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 23 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.
Về việc chỉ định người giám hộ: Chị Đỗ Thị L yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Phạm Hoàng H là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi với mục đích thực hiện thủ tục ly hôn với anh H. Vì vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của anh H, Tòa án chỉ định bà Ngô Thị Ngọc C - mẹ đẻ của anh Phạm Hoàng H là người giám hộ cho anh H. Bà Ngô Thị Ngọc C có quyền, nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định tại khoản 1 Điều 57, khoản 1 Điều 58 và khoản 1 Điều 59 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về lệ phí sơ thẩm: Chị Đỗ Thị L là cá nhân thuộc hộ cận nghèo và có đơn đề nghị miễn lệ phí sơ thẩm. Vì vậy, miễn toàn bộ lệ phí sơ thẩm cho chị Đỗ Thị L theo quy định tại khoản 1 Điều 4, điểm đ khoản 1 và khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Trả lại chị Đỗ Thị L tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm đã nộp.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các điều 27, 35, 39, 149, 367, 370, 371, 372 và 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 23, 57, 58 và 59 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 4, điểm đ khoản 1 và khoản 2 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Tuyên bố anh Phạm Hoàng H, sinh năm 1972; cư trú tại số 54 C, tổ dân phố số 4, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
- Chỉ định bà Ngô Thị Ngọc C (mẹ đẻ của anh Phạm Hoàng H) là người giám hộ cho anh Phạm Hoàng H. Bà Ngô Thị Ngọc C có quyền, nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định tại khoản 1 Điều 57, khoản 1 Điều 58 và khoản 1 Điều 59 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Đỗ Thị L được miễn toàn bộ lệ phí sơ thẩm. Trả lại chị Đỗ Thị L 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) - tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0017776 ngày 24 tháng 12 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Chị Đỗ Thị L và cháu Phạm Bạch D có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Bà Ngô Thị Ngọc C và cháu Phạm Minh H có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Hải An; - VNKSND thành phố Hải Phòng; - Chi cục THADS quận Hải An; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự, HCTP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Vũ Thị Bích Diệp |