- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài — án kinh doanh thương mại — "Công ty Cổ phần Lionas Fund - Công ty TNHH Lionas Metals - Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoà…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của người bị yêu cầu phải thi hành Công ty Trách nhiệm hữu hạn L2.
- Căn cứ chính? Điều 38 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 462 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2026/QĐ-PT Thanh Hóa, ngày 23 tháng 6 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO
ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM
PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Thanh Hùng.
Các Thẩm phán: Bà Lê Thu Hương và ông Đào Anh Đức.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên họp: Bà Đặng Thị Thanh Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên họp phúc thẩm công khai giải quyết việc kinh doanh thương mại thụ lý số: 10/2026/VKDTMPT ngày 08/5/2026 về việc “Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài”.
Do Quyết định giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài số: 02/2026/QĐST-KDTM ngày 30 tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân dân Khu vực 9 - Thanh Hoá bị kháng cáo.
Theo Quyết định mở phiên họp số 01/2026/QĐ-PT ngày 22 tháng 5 năm 2026 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, giữa các đương sự:
1. Người yêu cầu được thi hành: Công ty Cổ phần L; địa chỉ: Tầng A, tòa nhà H, 2 N, H-cho, Chuo-ku, T-to, Nhật Bản.
Người đại diện theo pháp luật: Ông M - Chức vụ: Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần L.
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Hoàng Thị N, sinh năm 1997; địa chỉ: Tổ dân phố B, xã T, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp: Ông Trịnh Ngọc N1 - Luật sư của Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T; địa chỉ: Số A Đ, đường D, phường H, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).
2. Người bị yêu cầu phải thi hành: Công ty Trách nhiệm hữu hạn L2; địa chỉ: Tổ dân phố L, phường N, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Liu C, Chức vụ: Tổng Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn L2
Người đại diện theo uỷ quyền:
1. Ông Trần Đức M1, sinh năm 1999 (vắng mặt);
2. Ông Trần Đình H, sinh năm 2002 (có mặt).
Cùng địa chỉ: P, tầng H, tòa nhà T, số B N, phường H, thành phố Hà Nội.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp: Ông Trương Công H1 - Luật sư của Công ty TNHH A thuộc Đoàn luật sư thành phố H; địa chỉ: Phòng I, Tòa I, chung cư T, đường A, khu đô thị P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người kháng cáo: Công ty Trách nhiệm hữu hạn L2 là người bị yêu cầu phải thi hành.
NỘI DUNG VIỆC YÊU CẦU:
Theo đơn yêu cầu và trong quá trình giải quyết vụ việc, người yêu cầu Công ty Cổ phần L (sau đây viết tắt là Công ty L) trình bày:
Công ty L là đối tác cung ứng hàng hóa cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn L2 (sau đây viết tắt là Công ty L2). Theo đó, Công ty L đã bán hàng hóa cho Công ty L2 là than cốc, dầu mỏ, các vật liệu gang, thép và các nguyên vật liệu khác theo 16 hợp đồng mua bán, với tổng giá trị các hợp đồng là 755.845.65 USD đã ký kết; các bên thỏa thuận, nếu có tranh chấp phát sinh liên quan đến hợp đồng mua bán, sẽ được giải quyết tại Hiệp hội Trọng tài Thương mại N2 (viết tắt là JCAA); trụ sở tại Nhật Bản.
Công ty L đã giao hàng cho Công ty L2 theo đúng thỏa thuận nhưng Công ty L2 không trả tiền Công ty L đúng thời hạn cam kết.
Công ty L đã gửi đơn khởi kiện đến JCAA về yêu cầu giải quyết buộc Công ty L2 phải trả tiền mua hàng cho Công ty L. Quá trình giải quyết tại JCAA, JCAA đã đưa ra Phán quyết ngày 09/10/2025, theo đó: Buộc Công ty L2 phải trả cho Công ty L số tiền 755.845,65 USD và lãi suất 3%/năm kể từ ngày 01/01/2022 cho đến khi trả tiền đầy đủ. Đây là phán quyết cuối cùng của JCAA và có hiệu lực thi hành đối với các bên.
Công ty L gửi đơn yêu cầu Toà án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Phán quyết số 24-04 ngày 09/10/2025 của JCAA đối với người phải thi hành là Công ty L2.
Theo văn bản ý kiến và trong quá trình giải quyết vụ việc, người bị yêu cầu Công ty L2 trình bày:
Công ty L2 đã được Tòa án cho sao chụp đơn yêu cầu của Công ty L; Phán quyết số 24-04 ngày 09/10/2025 giải quyết tranh chấp giữa Công ty L và Công ty L2; các tài liệu, chứng cứ khác kèm theo về yêu cầu Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết trọng tài nước ngoài.
Về hình thức: Tài liệu, chứng cứ do Công ty L đã nộp cho Tòa án, tuy có hợp pháp hóa Tổng Lãnh sự quán C2 tại Hồ N và M2 nhưng Công ty L2 không đồng ý, vì lý do sau đây: Công ty L có giấy tờ pháp lý do Nhật Bản cấp và địa chỉ trụ sở chính tại Nhật Bản; Phán quyết số 24-04 và 24-05 ngày 09/10/2025 của JCAA do các Trọng tài viên thuộc JCAA ký; JCAA có trụ sở tại Nhật Bản, thì tài liệu này phải được hợp pháp hóa lãnh sự Việt Nam tại Nhật Bản chứng nhận con dấu, chữ ký, chức danh trên tài liệu do cơ quan, tổ chức của Nhật Bản cấp theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định số: 111/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số: 196/2025/NĐ-CP ngày 04/7/2025 của Chính phủ.
Về nội dung: Phán quyết số 24-04 ngày 09/10/2025 của JCAA giải quyết tranh chấp giữa Công ty L và Công ty L2 được ban hành sau khi tố tụng trọng tài chấm dứt, không đáp ứng điều kiện “chấm dứt tố tụng trọng tài”; Phán quyết số 24-04 ngày 09/10/2025 của JCAA giải quyết tranh chấp giữa Công ty L và Công ty L2 không ghi nhận nội dung liên quan đến hiệu lực thi hành đối với các bên là không phù hợp với pháp luật Việt Nam.
Nay Công ty L2 yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Đình chỉ và trả lại đơn yêu cầu của Công ty L do không đáp ứng điều kiện về hình thức.
- Không chấp nhận đơn yêu cầu của Công ty L về yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Phán quyết số 24-04 ngày 09/10/2025 của JCAA.
Tại Quyết định giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài số 02/2026/QĐST-KDTM ngày 30 tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 9 - Thanh Hoá đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu được thi hành là Công ty Cổ phần L.
- Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Phán quyết cuối cùng LIONAS FUND CO, LTD (Vụ việc Trọng tài JCAA số 24-04 Nhật Bản) ngày 09 tháng 10 năm 2025: Công ty trách nhiệm hữu hạn L2 phải thanh toán cho Công ty Cổ phần L số tiền 755.845,65 USD cùng với lãi suất 3%/năm cho đến khi thanh toán đầy đủ.
Ngoài ra, quyết định sơ thẩm còn quyết định về lệ phí yêu cầu và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 30/3/2026, Công ty L2 kháng cáo về yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa quyết định sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Phán quyết cuối cùng LIONAS FUND CO, LTD (Vụ việc Trọng tài JCAA số 24-04 Nhật Bản) ngày 09 tháng 10 năm 2025 của Trọng tài thương mại Nhật Bản (JCAA) đối với phần giải quyết tranh chấp giữa Công ty L và Công ty L2; hoặc huỷ Quyết định sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại.
Tại phiên họp phúc thẩm: Người kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo; các bên đương sự không thoả thuận được về nội dung giải quyết vụ việc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Hội đồng phúc thẩm và các đương sự đều chấp hành quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Toà án cấp sơ thẩm giải quyết vụ việc có căn cứ và đúng quy định của pháp luật. Kháng cáo của người bị yêu cầu phải thi hành không có căn cứ chấp nhận, đề nghị Hội đồng phúc thẩm giữ nguyên Quyết định giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài số: 02/2026/QĐST-KDTM ngày 30 tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân dân Khu vực 9
- Thanh Hoá.
XÉT THẤY:
Về hình thức:
Đơn kháng cáo của Công ty TNHH L2 trong thời hạn kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, cấp phúc thẩm xem xét vụ việc theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên họp, người đại diện của Công ty L2 yêu cầu thay đổi Chủ tọa và thành viên Hội đồng phúc thẩm, với lý do không đồng ý việc một Hội đồng phúc thẩm xem xét đối với hai quyết định sơ thẩm đều liên quan đến người bị yêu cầu phải thi hành là Công ty TNHH L2.
Xét thấy, người đại diện của Công ty L2 không nêu được căn cứ Hội đồng phúc thẩm thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu thay đổi Chủ tọa và thành viên Hội đồng phúc thẩm.
Đại diện của Công ty L2 yêu cầu Tòa án tạm ngừng phiên họp phúc thẩm để cung cấp tài liệu, chứng cứ là hợp pháp hóa lãnh sự theo pháp luật Việt Nam đối với Phán quyết của Trung tâm T1 (Phán quyết trọng tài SHIAC) ban hành ngày 02/4/2026.
Xét thấy, Phán quyết của Trung tâm T1 (SHIAC) ban hành ngày 02/4/2026 không phải là văn bản có giá trị pháp lý về việc không công nhận tính hiệu lực hay hủy bỏ Phán quyết cuối cùng LIONAS FUND CO, LTD (Vụ việc Trọng tài JCAA số 24-04 Nhật Bản) ngày 09 tháng 10 năm 2025 của Trọng tài thương mại Nhật Bản (JCAA). Do đó, không cần thiết tạm ngừng phiên họp theo yêu cầu của đại diện của Công ty L2.
Về nội dung:
Theo Phán quyết cuối cùng LIONAS FUND CO, LTD (Vụ việc Trọng tài JCAA số 24-04 Nhật Bản) ngày 09 tháng 10 năm 2025 của Trọng tài thương mại Nhật Bản (JCAA) về giải quyết tranh chấp giữa Công ty L và Công ty L2 là phán quyết cuối cùng và có hiệu lực bắt buộc đối với các đương sự tham gia vụ việc trọng tài (nguyên đơn là Công ty L và bị đơn là Công ty L2).
Theo quy định của Công ước New York 1958 mà Việt Nam là thành viên và Luật Trọng tài thương mại năm 2010, thì phán quyết cuối cùng của trọng tài có giá trị chung thẩm, bắt buộc thi hành đối với các bên kể từ ngày ban hành.
Tại Điều 424 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam: 1. Phán quyết của Trọng tài nước ngoài sau đây được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam: a) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài mà nước đó và C3 cùng là thành viên của điều ước quốc tế về công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài; b) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại. 2. Phán quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam là phán quyết cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt tố tụng trọng tài và có hiệu lực thi hành. 3. Trọng tài nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo quy định của Luật Trọng tài thương mại của Việt Nam”.
Tại khoản 4 Điều 458 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Khi xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành, Hội đồng không được xét xử lại tranh chấp đã được Trọng tài nước ngoài ra phán quyết. Tòa án chỉ được kiểm tra, đối chiếu phán quyết của Trọng tài nước ngoài, giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu với các quy định tại Chương XXXV và Chương XXXVII của Bộ luật này, các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà C3 là thành viên để làm cơ sở cho việc ra quyết định công nhận hoặc không công nhận phán quyết đó”.
Như vậy, Phán quyết cuối cùng LIONAS FUND CO, LTD (Vụ việc Trọng tài JCAA số 24-04 Nhật Bản) ngày 09 tháng 10 năm 2025 của Trọng tài thương mại Nhật Bản (JCAA) về giải quyết tranh chấp giữa Công ty L và Công ty L2 và đủ điều kiện để được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam theo quy định tại Điều 424, khoản 4 Điều 458 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Công ước New York năm 1958.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của Công ty L về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Phán quyết cuối cùng LIONAS FUND CO, LTD (Vụ việc Trọng tài JCAA số 24-04 Nhật Bản) ngày 09 tháng 10 năm 2025 của Trọng tài thương mại Nhật Bản (JCAA) là có cơ sở và đúng pháp luật Việt Nam và Công ước New York 1958.
Người kháng cáo cho rằng Toà án cấp sơ thẩm vi phạm quy định về thủ tục tiếp nhận, xem xét, yêu cầu sửa đổi bổ sung đơn yêu cầu và thụ lý theo Điều 453 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét thấy, các tài liệu do Công ty L cung cấp kèm theo đơn yêu cầu đã được Ủy viên tuyên thệ tại Hồ N xác nhận, Tòa án tối cao Hồng Kông chứng thực, C2 tại Hồ N và Ma C1 thực hiện hợp pháp hóa lãnh sự. Trong quá trình giải quyết vụ việc tại cấp sơ thẩm, Công ty L còn bổ sung các tài liệu đã được cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại Nhật Bản hợp pháp hóa lãnh sự. Như vậy, các tài liệu do Công ty L cung cấp đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam ở nước ngoài chứng nhận theo đúng bản chất và mục đích của thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự quy định tại Nghị định số: 111/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ. Do đó, kháng cáo của Công ty L2 cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm Điều 453 Bộ luật Tố tụng dân sự là không có cơ sở.
Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện trình tự, thủ tục tố tụng về xem xét đơn yêu cầu và thụ lý việc yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết trọng tài nước ngoài đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý yêu cầu của Công ty L, Tòa án cấp sơ thẩm có thông báo cho Công ty L2 biết về yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ kèm theo của Công ty L; Công ty L2 đã sao chụp các tài liệu, chứng cứ và có gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến và quan điểm pháp lý đối với yêu cầu của Công ty L và tham gia phiên họp.
Công ty L2 và đại diện của Công ty L2 kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh về Phán quyết cuối cùng LIONAS FUND CO, LTD (Vụ việc Trọng tài JCAA số 24-04 Nhật Bản) ngày 09 tháng 10 năm 2025 của Trọng tài thương mại Nhật Bản (JCAA) thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 459 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Do đó, cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty L2 như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá.
Về lệ phí phúc thẩm: Cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo nên người kháng cáo phải chịu lệ phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 38 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 462 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 38 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án;
1. Không chấp nhận kháng cáo của người bị yêu cầu phải thi hành Công ty Trách nhiệm hữu hạn L2.
2. Giữ nguyên Quyết định giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài số: 02/2026/QĐST-KDTM ngày 30 tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân dân Khu vực 9 - Thanh Hoá:
- Chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu được thi hành là Công ty Cổ phần L.
- Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Phán quyết cuối cùng LIONAS FUND CO, LTD (Vụ việc Trọng tài JCAA số 24-04 Nhật Bản) ngày 09 tháng 10 năm 2025 của Trọng tài thương mại Nhật Bản (JCAA): Công ty trách nhiệm hữu hạn L2 phải thanh toán cho Công ty Cổ phần L số tiền 755.845,65 USD cùng với lãi suất 3%/năm cho đến khi thanh toán đầy đủ.
3. Về lệ phí phúc thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn L2 phải chịu lệ phí phúc thẩm là 300.000đ, được trừ vào tạm ứng lệ phí số tiền 300.000đ đã nộp theo Biên lai số 0002858 ngày 13 tháng 4 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá.
4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra Quyết định ./.
HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM
CÁC THẨM PHÁN
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
Đào Anh Đức Lê Thu H2
Lê Thanh H3
| Nơi nhận: - P10-VKSND tỉnh Thanh Hóa; - TAND KV 9-Thanh Hoá; - THADS tỉnh Thanh Hoá - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Thanh Hùng |