vanban.org

Quyết định 02/2025/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Tăng Thị Thu H:

Tuyên bố hợp đồng lao động ký giữa người sử dụng lao động Công ty TNHH Haivina với người lao động chị Tăng Thị Thu H (do chị Nguyễn Thị H ký hợp đồng) là vô hiệu toàn bộ. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Tăng thị Thu H - Tuyên bố HĐLĐ vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Tăng Thị Thu H:
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 127 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 – HẢI PHÒNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2025/QĐST - LĐ
"V/v Tuyên bố hợp đồng lao
động vô hiệu"
Hải Phòng, ngày 27 tháng 11 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – HẢI PHÒNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Đàm Nhân Trác

Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Anh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - HP: Bà Nguyễn Thanh Vân

Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 – Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2025/TLST-VLĐ ngày 09 tháng 10 năm 2025 về việc: Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2025/QĐST-VLĐ ngày 20/11/2025 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Chị Tăng Thị Thu H, sinh ngày 01/12/1994; Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; cấp ngày 07/9/2022; địa chỉ: Thôn Phạm T, xã Gia P, thành phố Hải Phòng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị H, sinh ngày 30/7/1998; Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; cấp ngày 30/7/1998; địa chỉ: Thôn Phạm T, xã Gia P, thành phố Hải Phòng.

- Công ty TNHH Haivina; địa chỉ: Thôn Lãng X, xã Gia L, thành phố Hải Phòng.

Người đại diện theo pháp luật: Ông KIM HYUNG JOO - Tổng giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Duy H- Trưởng phòng nhân sự Công ty TNHH Haivina.

Địa chỉ: Thôn Lãng X, xã Gia L, thành phố Hải Phòng.

- Bảo hiểm xã hội cơ sở Gia Lộc; địa chỉ: Số 11, ngõ 156, đường Nguyễn Chế Nghĩa, thôn Phương Điếm 4, xã Gia Lộc, thành phố Hải Phòng.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Hoàng Thị Hồi - Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn L- Phó giám đốc.

Địa chỉ: Số 11, ngõ 156, đường Nguyễn Chế Nghĩa, thôn Phương Điếm 4, xã Gia Lộc, thành phố Hải Phòng.

(Các đương sự đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

1.Tại đơn yêu cầu và trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu chị Tăng Thị Thu H trình bày: Chị và chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn Phạm T, xã Gia P, thành phố Hải Phòng có quan hệ quen biết. Tháng 12/2013, do không hiểu biết nên chị đã cho chị Hương mượn chứng minh nhân dân để chị Hương làm hồ sơ xin việc tại Công ty TNHH Haivina và ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Haivina; địa chỉ: Thôn Lãng X, xã Gia L, thành phố Hải Phòng. Khi làm việc tại đây chị Hương (lấy tên chị Hường) đã được Công ty TNHH Haivina đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp mang tên Tăng Thị Thu H từ tháng 12/2013 đến tháng 02/2017, đã được Cơ quan bảo hiểm xã hội cơ sở Gia Lộc; địa chỉ: Số 11, ngõ 156, đường Nguyễn Chế Nghĩa, thôn Phương Điếm 4, xã Gia Lộc, thành phố Hải Phòng làm thủ tục cấp mã số sổ bảo hiểm số BZ12362286 mang tên của chị trong khi thực tế chị không làm việc tại Công ty TNHH Havina; thời gian này chị đang làm việc tại Công ty TNHH M&S Vina có số sổ bảo hiểm 3013054040, (do chị ký hợp đồng lao động tại Công ty TNHH M&S Vina) nên Công ty TNHH M&S Vina đóng bảo hiểm cho chị từ tháng 06/2013 đến tháng 05/2017 và trùng với thời gian chị Hương mượn chứng minh nhân dân để ký hợp đồng và được Công ty TNHH Haivina đóng bảo hiểm. Nay chị nhận thức việc chị Hương mượn hồ sơ của chị để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH Haivina là vi phạm nguyên tắc trung thực khi ký kết hợp đồng lao động. Do vậy, chị đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Hải Phòng tuyên bố: Hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty TNHH Haivina với chị (do chị Hương ký) là vô hiệu và giải quyết hậu quả của Hợp đồng lao động vô hiệu.

2. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị và chị Tăng Thị Thu H có quan hệ quen biết. Tháng 12/2013, do không hiểu biết nên chị đã mượn chứng minh nhân dân của chị Tăng Thị Thu H để làm hồ sơ xin việc tại Công ty TNHH Haivina và ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Haivina. Hiện nay hợp đồng lao động do thời gian đã lâu nên chị không còn lưu giữ. Khi ký hợp đồng, chị cũng không nói cho Công ty TNHH Haivina biết chị mượn hồ sơ của chị Hường để ký hợp đồng lao động. Quá trình làm việc tại đây, chị đã được Công ty TNHH Haivina đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 12/2013 đến tháng 02/2017, đã được Cơ quan bảo hiểm xã hội cơ sở Gia Lộc làm thủ tục cấp mã số sổ bảo hiểm là BZ 12362286 mang tên chị Tăng Thị Thu H. Trong thời gian chị lấy tên chị Tăng Thị Thu H làm việc tại Công ty TNHH Haivina thì chị Hường cũng ký hợp đồng lao động làm việc tại Công ty TNHH M&S Vina và Công ty đóng bảo hiểm XH và BHTN cho chị Hường từ tháng 06/2013 đến tháng 05/2017, trùng với thời gian chị mượn chứng minh thư nhân dân của chị Tăng Thị Thu H để ký hợp đồng và được Công ty TNHH Haivina đóng bảo hiểm.

Tháng 3/2017 chị đã nghỉ việc tại Công ty TNHH Haivina, kể từ khi nghỉ việc chị không tham gia ký kết hợp đồng lao động ở bất cứ Công ty nào khác và chưa nhận bất kể khoản tiền nào do Cơ quan bảo hiểm chi trả. Chị nhận thức việc chị mượn chứng minh thư của chị Tăng Thị Thu H để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Haivina là không đúng quy định, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của chị Hường.

Nay chị Tăng Thị Thu H có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Hải Phòng tuyên bố Hợp đồng lao động đã ký kết giữa Công ty TNHH Haivina; địa chỉ: Thôn Lãng X, xã Gia L, thành phố Hải Phòng với người lao động tên Tăng Thị Thu H (do chị đứng tên ký) là vô hiệu và giải quyết hậu quả của Hợp đồng lao động vô hiệu, chị đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của Pháp luật. Số tiền Công ty TNHH Haivina đã đóng BHXH, BHTN cho chị theo tên của chị Tăng Thị Thu H chị không có ý kiến gì.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH Haivina trình bày:

Công ty TNHH Haivina có ký kết hợp đồng lao động với chị Tăng Thị Thu H, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn Phạm T, xã Gia P, thành phố Hải Phòng. Do thời gian đã lâu nên hợp đồng lao động giữa chị Hường và Công ty đã bị thất lạc nên Công ty không cung cấp được cho Tòa án. Thời gian chị Hường làm việc tại Công ty TNHH Haivina từ tháng 12/2013 đến tháng 02/2017, tháng 3 năm 2017 chị Hường nghỉ việc vì lý do cá nhân. Từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 2/2017 Công ty đã tham gia bảo hiểm xã hội cho chị Tăng Thị Thu H theo số sổ bảo hiểm xã hội BZ 12362286. Công ty không ký hợp đồng lao động với Nguyễn Thị H, sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn Phạm T, xã Gia P, thành phố Hải Phòng. Việc chị Nguyễn Thị H lấy tên chị Tăng Thị Thu H để ký kết hợp đồng lao động với Công ty, Công ty không biết, sau khi nhận được thông báo thụ lý của Tòa án, Công ty mới biết hợp đồng lao động giữa Công ty và chị Hường là do chị Hương mượn chứng minh thư nhân dân của chị Hường để ký với Công ty. Nay chị Hường yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

4. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dương nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Gia Lộc trình bày:

Căn cứ vào dữ liệu quản lý của cơ quan Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm xã hội cơ sở Gia Lộc cung cấp quá trình tham gia BHXH, BHYT, BHTN của chị Tăng Thị Thu H, sinh năm 1994 tại mã số BHXH là BZ 12362286 và mã số Bảo hiểm xã hội 3013054040 bị trùng thời gian tham gia bảo hiểm (thời gian tham gia đóng BHXH, BHTN trùng từ 12/2013 đến tháng 02/2017). Tháng 3/2017 chị Hường do chị Hương đứng tên nghỉ việc, Bảo hiểm xã hội chưa chi trả bất kỳ khoản tiền nào liên quan đến quá trình tham gia BHXH mà chị Hường đã kê khai cho người khác mượn hồ sơ để làm việc và tham gia BHXH.

Tại phiên họp: Các đương sự đều đề nghị giải quyết vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hải Phòng xác định Thẩm phán, thư ký phiên họp, các đương sự đã tuân theo và chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết việc dân sự. Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11 – Hải Phòng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39, Điều 149, 367, 370, 371, 372, 401, 402 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, 127, 132 Bộ luật dân sự năm 2005 và Điều 131 Bộ luật dân sự sửa đổi bổ sung năm 2015; Điều 29 Bộ luật lao động năm 1994; Điều 15, 16, điểm b khoản 1 Điều 49, 50, 51 Bộ luật lao động năm 2019; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Luật án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu của chị Tăng Thị Thu H: Tuyên bố hợp đồng lao động giữa người lao động tên Tăng Thị Thu H (do chị Nguyễn Thị H ký) và Công ty TNHH Haivina vô hiệu. Hoàn trả cho Công ty TNHH Haivina toàn bộ số tiền Bảo hiểm xã hội đã đóng cho người lao động đứng tên Tăng Thị Thu H từ tháng 12/2013 đến tháng 02/2017 theo sổ BHXH số BZ 12362286 theo quy trình thoái thu của Bảo hiểm xã hội. Về lệ phí: Buộc chị Tăng Thị Thu H phải chịu lệ phí giải quyết việc Lao động theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 11 – Hải Phòng nhận định:

Về tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Công ty TNHH Haivina có trụ sở tại thôn Lãng X, xã Gia L, thành phố Hải Phòng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND khu vực 11 – Hải Phòng theo quy định tại điểm v khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Người yêu cầu và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm chị Hường, chị Hương và Công ty TNHH Havina, Bảo hiểm xã hội cơ sở Gia Lộc đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành phiên họp vắng mặt những người trên.

. Về nội dung:

. Về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty TNHH Haivina với chị Tăng Thị Thu H (do chị Nguyễn Thị H ký hợp đồng) là vô hiệu: Quá trình giải quyết việc lao động mặc dù người yêu cầu và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không xuất trình được hợp đồng lao động ký kết giữa chị Hường (do chị Hương ký) với Công ty TNHH Haivina vì thời gian đã lâu, hợp đồng lao động không còn lưu giữ. Căn cứ lời khai chị Hường, chị Hương, văn bản trình bày của người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH Haivina và Cơ quan Bảo hiểm xã hội cơ sở Gia Lộc về quá trình tham gia bảo hiểm của chị Tăng Thị Thu H. Có cơ sở xác định Công ty TNHH Haivina có ký kết Hợp đồng lao động với chị Tăng Thị Thu H nhưng do chị Nguyễn Thị H ký và là người trực tiếp làm việc tại Công ty TNHH Haivina. Việc chị Hương mượn chứng minh thư của chị Hường làm hồ sơ xin việc và đứng tên chị Hường để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH Haivina là giả mạo khi giao kết hợp đồng. Vì vậy, yêu cầu của chị Hường đề nghị Tòa án tuyên bố Hợp đồng lao động giữa người lao động tên Tăng Thị Thu H (do chị Hương ký) và Công ty TNHH Haivina vô hiệu là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.

. Về hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu:

Quá trình chị Hương làm việc tại Công ty TNHH Haivina, Công ty đã đóng bảo hiểm từ tháng 12/2013 đến tháng 02/2017 tên chị Tăng Thị Thu H theo số sổ bảo hiểm số BZ 12362286. Căn cứ vào tài liệu ghi quá trình đóng BHXH, BHTN và quan điểm của Bảo hiểm xã hội cơ sở Gia Lộc, xác định tổng số tiền bảo hiểm Công ty TNHH Haivina đã đóng cho chị Hương (đứng tên chị Hường) trong thời gian từ tháng 12/2013 đến tháng 02/2017 theo số sổ bảo hiểm số BZ 12362286 cần phải hoàn trả cho Công ty TNHH Haivina theo quy trình thoái thu của Bảo hiểm xã hội.

Sau khi chị Hương nghỉ việc tại Công ty TNHH Haivina, chị Hương chưa nhận bất kể khoản trợ cấp nào do Cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả nên không đặt ra để giải quyết.

. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc: Chị Tăng Thị Thu H phải chịu lệ phí sơ thẩm việc dân sự theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 33, điểm v khoản 2 Điều 39, Điều 149, 367, 370, 372, 401, 402 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, 127, 132 Bộ luật dân sự năm 2005 và Điều 131 Bộ luật dân sự sửa đổi bổ sung năm 2015; Điều 29 Bộ luật lao động năm 1994; Điều 15, 16, điểm b khoản 1 Điều 49, 50, 51 Bộ luật lao động năm 2019; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Tăng Thị Thu H:

Tuyên bố hợp đồng lao động ký giữa người sử dụng lao động Công ty TNHH Haivina với người lao động chị Tăng Thị Thu H (do chị Nguyễn Thị H ký hợp đồng) là vô hiệu toàn bộ.

2. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ:

Hoàn trả cho Công ty TNHH Haivina số tiền bảo hiểm đã đóng cho chị Nguyễn Thị H (đứng tên Tăng Thị Thu H) từ tháng 12/2013 đến hết tháng 2/2017 tại số sổ BZ 12362286 theo tỷ lệ và quy trình thoái thu của Bảo hiểm xã hội.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc Dân sự: Chị Tăng Thị Thu H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng lệ phí theo biên lai thu tiền số 0003409 ngày 09/10/2025 tại Thi hành án dân sự Thành phố Hải Phòng. Chị Hường đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm việc lao động.

4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày quyết định được niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hải Phòng có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hải Phòng có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ