- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "T - V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn của ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu tuyên bố một người hạn chế năng lực hành vi dân sự và xin làm người giám hộ.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Bộ luật Dân sự; Điều 23 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG – TP HÀ NỘI ------***------ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2018/QĐ- DSST V/v: Tuyên bố một người hạn chế năng lực hành vi dân S. | Hà Nội, ngày 27 tháng 4 năm 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG
Với thành phần phiên họp giải quyết việc dân S:
Chủ toạ phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Chức vụ: Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Lài- Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Hảo - Kiểm sát viên
Trong ngày 27/4/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân S thụ lý số 118/2017/TLST- VDS ngày 03/11/2017 về việc yêu cầu tuyên bố một người hạn chế năng lực hành vi dân S theo quyết định mở phiên họp số: 06/2018/QĐ-MPH ngày ngày 16 tháng 4 năm 2018. 1. Người yêu cầu giải quyết việc dân S: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1955 Đăng ký hộ khẩu và ở tại: phố Đ, phường N, quận H, Hà Nội.
(Có mặt tại phiên họp)
2. Đối với: Ông Nguyễn Đức V, sinh năm: 1962 Đăng ký hộ khẩu: phố Đ, phường N, quận H, Hà Nội. Hiện ở tại: Trung tâm chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần Hà Nội
(Vắng mặt tại phiên họp)
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm: 1948 ĐKHK và ở tại: phố Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. (Xin vắng mặt tại phiên họp)
- Bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1952 ĐKHK và ở tại: phố Đ, quận H, thành phố Hà Nội.
(Xin vắng mặt tại phiên họp)
NHẬN THẤY
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân S và bản tự khai ông Nguyễn Văn T trình bày:
Bố mẹ tôi đã mất, khi còn sống sinh được năm người con là: Nguyễn Mạnh H, sinh năm: 1948, Nguyễn Thị D, sinh năm: 1952, Nguyễn Văn T, sinh năm: 1955, Nguyễn Văn S, sinh năm: 1958 (đã chết năm 2007) và Nguyễn Đức V, sinh năm: 1962.
Em trai tôi là Nguyễn Đức V từ nhỏ sức khỏe bình thường, học tập tốt. Từ năm 1982-1984 em tôi làm công nhân tại Sở giao thông Hà Nội. Từ năm 1984 - 1988 em tôi tham gia bộ đội chiến đấu trên mặt trận biên giới phía Bắc, ra quân em tôi lại về cơ quan cũ làm việc đến năm 1998 nghỉ chế độ do sức khỏe không ổn định. Từ năm 2000-2005 em tôi phát bệnh tâm thần và hàng năm phải đi điều trị nội trú tại Bệnh viện tâm thần Trâu Quỳ vài tháng. Sau những năm điều trị tại Bệnh viện Trâu Quỳ đến năm 2006 em tôi được Sở lao động Thương Binh Xã Hội thành phố Hà Nội tiếp nhận và chăm nuôi tại Trung tâm chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần Hà Nội. Hiện nay, em tôi là bệnh nhân của Trung tâm. Tôi mong muốn Tòa án tuyên bố em trai tôi hạn chế năng lực hành vi dân S và tôi là người giám hộ cho em tôi. Anh trai tôi và chị gái tôi đều đồng ý cử tôi là người giám hộ cho em tôi.
Ông Nguyễn Mạnh H và bà Nguyễn Thị D cùng đồng ý với lời trình bày của ông Nguyễn Văn T và cùng đề nghị Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Đức V hạn chế năng lực hành vi dân S và đồng ý để ông Nguyễn Văn T là người giám hộ của ông Nguyễn Đức V. Ông H và bà D xin vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa. Ngoài ra ông H và bà D không còn yêu cầu gì khác.
Tại phiên họp: Ông Nguyễn Văn T vẫn giữ yêu cầu đề nghị Toà án tuyên bố ông Nguyễn Đức V hạn chế năng lực hành vi dân S và xác định ông là người giám hộ của ông Nguyễn Đức V.
Thẩm phán công bố lời khai của ông Nguyễn Mạnh H và bà Nguyễn Thị D.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng phát biểu ý kiến: Về tố tụng, quá trình giải quyết việc dân sự: Tòa án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc thụ lý việc dân sự, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật, đúng tư cách người tham gia tố tụng. Về thu thập chứng cứ và thời hạn chuẩn bị mở phiên họp, Toà án ra Quyết định trưng cầu giám định sức khoẻ đối với ông Nguyễn Đức V là đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự, thời hạn mở phiên họp đúng thời hạn. Về cấp tống đạt văn bản tố tụng đã tống đạt đúng quy định. Hồ sơ đủ điều kiện để toà án mở phiên họp và ra quyết định tuyên bố một người hạn chế năng lực năng lực hành vi dân sự.
Căn cứ vào lời trình bày của người yêu cầu tại phiên họp, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ.
XÉT THẤY
Ông Nguyễn Đức V từ nhỏ sức khỏe bình thường, học tập tốt. Từ năm 1982-1984 làm công nhân tại Sở giao thông Hà Nội. Từ năm 1984 -1988 ông tham gia bộ đội chiến đấu trên mặt trận biên giới phía Bắc, ra quân ông lại về cơ quan cũ làm việc đến năm 1998 nghỉ chế độ do sức khỏe không ổn định. Từ năm 2000-2005 phát bệnh tâm thần và hàng năm phải đi điều trị nội trú tại Bệnh viện tâm thần Trâu Quỳ vài tháng. Sau những năm điều trị tại Bệnh viện Trâu Quỳ đến năm 2006 ông V được Sở lao động Thương Binh Xã Hội thành phố Hà Nội tiếp nhận và chăm nuôi tại Trung tâm chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần Hà Nội. Hiện nay ông V là bệnh nhân của Trung tâm. Ông T, ông H và bà D cùng đề nghị Tòa án tuyên bố ông V hạn chế năng lực hành vi dân S và đồng ý cử ông T là người giám hộ cho ông Nguyễn Đức V là phù hợp với quy định của pháp luật.
Tại kết luận giám định sức khỏe tâm thần số 25/18/GĐSKTT ngày 16/3/2018 của Viện Pháp y Tâm thần Trung Ương kết luận: Tại thời điểm giám định ông Nguyễn Đức V bị bệnh tâm thần phân liệt thể Paranoid, theo bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F20.0. Bệnh ở giai đoạn thuyên giảm. Đối tượng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Hiện tại ông Nguyễn Đức V hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, cần có người giám hộ. Xét thấy, đơn yêu cầu của ông Nguyễn Văn T là có căn cứ và phù hợp với quy định tại điều 376 Bộ luật tố tụng dân sự nên Toà án chấp nhận.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự yêu cầu tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự: Người yêu cầu phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.
Bởi các lẽ trên:
- Căn cứ điều 19, điều 23, điều 24, điều 53, điều 57, điều 58, điều 59 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ vào khoản 1 điều 27, điểm a khoản 2 điều 39, điều 149, 362, 369, 370, 371, 372, 376, 377, 378 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo Nghị quyết trên).
QUYẾT ĐỊNH
1. Chấp nhận đơn của ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu tuyên bố một người hạn chế năng lực hành vi dân sự và xin làm người giám hộ.
2. Tuyên bố: Ông Nguyễn Đức V, sinh năm: 1962; Đăng ký hộ khẩu: phố Đ phường N, quận H, thành phố Hà Nội. Hiện ở tại: Trung tâm chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần Hà Nội hạn chế năng lực hành vi dân sự. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1955; Địa chỉ: phố Đ, phường N, quận H, thành phố Hà Nội là người giám hộ của ông Nguyễn Đức V.
3. Về lệ phí: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại biên lai số 0003226 ngày 02 tháng 11 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sựQuận Hai Bà Trưng, Thành Phố Hà Nội.
Ông Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
Ông Nguyễn Mạnh H và bà Nguyễn Thị D vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định.
Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng có quyền kháng nghị quyết định trong hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Nơi gửi:
| - Người yêu cầu; - Người có quyền lợi và Nghĩa vụ liên quan - Viện Kiểm sát quận Hai Bà Trưng; - Thi hành án quận Hai Bà Trưng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (đã ký) Nguyễn Thị Hải Yến |