vanban.org

Quyết định 02/2017/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai Tuyên án 27/09/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.

Tuyên bố ông Nguyễn Sỹ D2, sinh năm 1962, nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện S, tỉnh Gia Lai mất năng lực hành vi dân sự. Bà Vũ Thị D, sinh năm 1958 hiện là vợ của ông Nguyễn Sỹ D2 là người giám hộ đương nhiên của ông Nguyễn Sỹ D2 thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 57 và khoản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN S
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2017/QĐDS-ST
Ngày: 27-9-2017
V/v: Yêu cầu tuyên bố một người
mất năng lực hành vi dân sự

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH GIA LAI

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Ông Võ Văn Quảng

- Thư ký phiên họp: Ông Thủy Sơn Phương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Gia Lai tham gia phiên họp: Ông Nay Jar - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Gia Lai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 60/2017/TLST-VDS về yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự theo Quyết định mở phiên họp số: 03/2017/QĐPH-ST ngày 21 tháng 9 năm 2017.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam.

Địa chỉ: 198 K, quận H, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nghiêm Xuân T; Chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nghiêm Xuân T: Ông Trương Anh T2; Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, chi nhánh Gia Lai; Địa chỉ: 33 Q, thành phố P, tỉnh Gia Lai (Theo văn bản ủy quyền số 213/UQ-VCB-PC ngày 12/4/2016 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam).

Người đại diện theo ủy quyền của ông Trương Anh T2: Ông Nguyễn Tấn Đ; Chức vụ: Trưởng Phòng giao dịch S, Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, chi nhánh Gia Lai (Theo văn bản ủy quyền số 436/UQ-NHNTGL ngày 02/8/2017 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, chi nhánh Gia Lai).

Ông Đ có mặt.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Vũ Thị D, sinh năm 1958; Địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện S, tỉnh Gia Lai; Có mặt.

- Anh Nguyễn Sỹ Q, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện S, tỉnh Gia Lai; Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Sỹ N, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Gia Lai; Có mặt.

- Anh Nguyễn Sỹ S, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện S, tỉnh Gia Lai; Có mặt.

- Chị Nguyễn Thị N2, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện S, tỉnh Gia Lai; Vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Gia Lai nhận định:

- Về thủ tục tố tụng: Việc Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Gia Lai thụ lý, giải quyết việc dân sự yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Bà Vũ Thị D, sinh năm 1958 và ông Nguyễn Sỹ D2, sinh năm 1962 là vợ chồng, hiện cư trú tại thôn T, xã A, huyện S, tỉnh Gia Lai. Ngày 01/9/2015 và ngày 15/10/2015, bà D, ông D2 lần lượt ký kết với Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Ngoại thương Việt Nam, chi nhánh Gia Lai, phòng giao dịch S các Hợp đồng cho vay bán lẻ số 1467 và số 1650, kèm theo đó bà D, ông D2 ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 19 ngày 19/11/2012 để thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất 03 lô đất tại tờ bản đồ số 18, 24, 34, thửa đất số 144; 15; 216 tại thôn T, xã A, huyện S, tỉnh Gia Lai theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 702969; Q 702971 do Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Gia Lai cấp ngày 30/12/1999 để vay số tiền tổng cộng 1.500.000.000đ (Một tỉ năm trăm triệu đồng) tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, chi nhánh Gia Lai, phòng giao dịch S.

Trong quá trình vay vốn, ngày 16/12/2015, ông D2 bị tai nạn giao thông. Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 105/TgT-TTPY ngày 15/5/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Gia Lai thì ông D2 bị chấn thương sọ não, sa sút trí tuệ rất nặng, mất khả năng nhận thức hành vi, sống kiểu thực vật.

Ngày 14/8/2017, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Gia Lai giải quyết việc dân sự về yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với ông Nguyễn Sỹ D2.

Trên cơ sở yêu cầu của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Gia Lai đã yêu cầu Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên tiến hành giám định pháp y tâm thần đối với ông Nguyễn Sỹ D2 để làm căn cứ giải quyết yêu cầu của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, nội dung cụ thể là giám định xem ông Nguyễn Sỹ D2 có bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi và thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự hay không.

Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 78/KLGĐTC ngày 21/9/2017 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên đã kết luận như sau:

1.1. Kết luận về y học:

- Hiện tại bị bệnh: Mất trí trong chấn thương sọ não/Chấn thương sọ não/Liệt tứ chi (F02.8-ICD10)/(S06-ICD10)/(G82.4-ICD10).

2.2. Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:

- Hiện tại: Mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi.

Kết quả giám định này đã được Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Gia Lai thông báo đến các đương sự trong vụ án và trong thời hạn theo yêu cầu, các đương sự không có ý kiến phản đối hoặc yêu cầu Tòa án tiến hành trưng cầu giám định lại hoặc trưng cầu giám định bổ sung.

Quá trình tham gia tố tụng, Tòa án nhân dân huyện S đã xác định những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc dân sự gồm những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Sỹ D2 là bà Vũ Thị D, là vợ của ông D2 và anh Nguyễn Sỹ Q, anh Nguyễn Sỹ N, anh Nguyễn Sỹ S, chị Nguyễn Thị N2, là các con đẻ của ông D2, bà D. Những người này đều đồng ý với việc Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam yêu cầu Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Gia Lai tuyên bố ông D2 mất năng lực hành vi dân sự và đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết yêu cầu của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.

Tại phiên tòa:

Người đại diện theo ủy của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc dân sự là bà Vũ Thị D, anh Nguyễn Sỹ S, anh Nguyễn Sỹ N giữ nguyên những ý kiến trong quá trình tham gia tố tụng trước đây và đề nghị Tòa án giải quyết việc Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Sỹ D2 mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Gia Lai nhận định việc Tòa án nhân dân huyện S tiến hành thụ lý, giải quyết việc dân sự yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với ông Nguyễn Sỹ D2 theo đơn yêu cầu của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam là đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định tại Chương XXIII và XXIV Phần thứ sáu Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đã được đánh giá, thẩm tra tại phiên họp, đề nghị Tòa án nhân dân huyện S chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, tuyên bố ông Nguyễn Sỹ D2 là người mất năng lực hành vi dân sự đồng thời xác định người giám hộ, người giám sát việc giám hộ, phạm vi giám hộ, các quyền, nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Trên cơ sở ý kiến của những người tham gia tố tụng, kết luận giám định của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên và quy định tại Điều 22 Bộ luật Dân sự, Tòa án nhân dân huyện S chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam về việc yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Sỹ D2 là người mất năng lực hành vi dân sự.

Việc cử người giám hộ, phạm vi giám hộ, người giám sát việc giám hộ, các quyền, nghĩa vụ của người giám hộ, việc thay đổi, chuyển giao, chấm dứt giám hộ được thực hiện theo quy định tại các Điều 51, 53, 57, 58, 59, 60, 61, 62 và 63 Bộ luật Dân sự.

Chi phí giám định pháp y tâm thần tại chỗ là 10.000.000đ do người yêu cầu giám định là Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam tự nguyện chịu, số tiền này Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam đã nộp đủ theo Phiếu thu ngày 16/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Gia Lai.

Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam là người yêu cầu giải quyết việc dân sự phải chịu lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

Khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 316, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 376, Điều 378, Điều 379 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 22, Điều 47, Điều 51, Điều 53, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 60, Điều 61, Điều 62 và Điều 63 Bộ luật Dân sự;

Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.

Tuyên bố ông Nguyễn Sỹ D2, sinh năm 1962, nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện S, tỉnh Gia Lai mất năng lực hành vi dân sự.

Bà Vũ Thị D, sinh năm 1958 hiện là vợ của ông Nguyễn Sỹ D2 là người giám hộ đương nhiên của ông Nguyễn Sỹ D2 thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 57 và khoản 1 Điều 58 Bộ luật Dân sự. Việc quản lý tài sản của người được giám hộ được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 59 Bộ luật Dân sự.

Người thân thích của người được giám hộ thỏa thuận cử người giám sát việc giám hộ trong số những người thân thích hoặc chọn cá nhân, pháp nhân khác làm người giám sát việc giám hộ.

Việc cử, chọn người giám sát việc giám hộ phải được sự đồng ý của người đó. Trường hợp giám sát việc giám hộ liên quan đến quản lý tài sản của người được giám hộ thì người giám sát phải đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ.

Người giám sát việc giám hộ thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại khoản 4 Điều 51 Bộ luật Dân sự.

Việc thay đổi, chuyển giao, chấm dứt việc giám hộ được thực hiện theo quy định tại Điều 60, Điều 61, Điều 62 Bộ luật Dân sự.

Khi người bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi không còn ở trong tình trạng đã bị tuyên bố thì chính người đó hoặc người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

2. Chi phí giám định pháp y tâm thần là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí giám định do Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam đã nộp theo Phiếu thu ngày 16/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Gia Lai. Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp tiền chi phí giám định.

3. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) do Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chịu. Số tiền này được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự là 300.000đ do Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0001491 ngày 15/8/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện S, tỉnh Gia Lai. Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp tiền lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự.

4. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Những người vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ