vanban.org

Quyết định 01/2024/QĐ-HNGĐST — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh ngày: 20/05/1982, nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; Bị đơn: Anh Đặng Ngọc B, sinh ngày: 08/09/1982, nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Quyết định công nhận TTLH và sự TT của các đương sự chị Trần Thị Hồng - anh Đặng Ngọc BẢo"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC HÀ
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2024/QĐST-HNGĐLộc Hà, ngày 05 tháng 01 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 26/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2023, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh ngày: 20/05/1982, nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh;

- Bị đơn: Anh Đặng Ngọc B, sinh ngày: 08/09/1982, nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ngân hàng Thương mại Cổ phần C2, chi nhánh H3, địa chỉ: Số H đường P, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh: Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình K, chức vụ: Phó Giám đốc (theo Giấy ủy quyền số 490/UQ-HĐQT-NHCT18 ngày 01/4/2022 do Chủ tịch HĐQT Ngân hàng TMCP C3 ký), ông Hà Huy C, chức vụ: Trưởng phòng giao dịch L,

+ Ông Trần Đình C1, sinh năm: 1959, bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1959, địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh.

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 55, 59, 60, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 29 tháng 12 năm 2023.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 29 tháng 12 năm 2023 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh ngày: 20/05/1982, nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh;

- Bị đơn: Anh Đặng Ngọc B, sinh ngày: 08/09/1982, nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh;

2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Đặng Ngọc B thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Chị Trần Thị H và anh Đặng Ngọc B có 02 con chung là: Đặng Hoàng H2, sinh ngày: 26/8/2005 (đã trưởng thành), Đặng Hoàng N, sinh ngày 10/9/2008. Chị Trần Thị H và anh Đặng Ngọc B thống nhất thỏa thuận giao cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Đặng Hoàng N, sinh ngày 10/9/2008 đến khi đủ 18 tuổi. Chị Trần Thị H không yêu cầu anh Đặng Ngọc B cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Đặng Ngọc B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung: Chị Trần Thị H và anh Đặng Ngọc B thống nhất vợ chồng có các tài sản chung, cụ thể như sau:

+ Thửa đất số 349, tờ bản đồ 11, diện tích 247,5 m2, địa chỉ thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh, được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy Chứng nhận Quyền sử dụng đất số BA 742773 ngày 17/5/2010 đứng tên Trần Thị H, Đặng Ngọc B. Một căn nhà cấp bốn lợp mái được xây dựng trên thửa đất và vật dụng sinh hoạt trong gia đình.

+ Thửa đất số 286, tờ bản đồ 32, diện tích 157,7 m2, địa chỉ thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh, được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 925289 ngày 09/3/2018 đứng tên Trần Thị H, Đặng Ngọc B. Một căn nhà cấp bốn lợp mái được xây dựng trên thửa đất và các vật dụng sinh hoạt gia đình.

- Về nợ chung: Anh Đặng Ngọc B và chị Trần Thị H thống nhất vợ chồng có khoản nợ chung như sau:

Hai thửa đất trên đã được thế chấp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần C2 theo Hợp đồng tín dụng số 2235.0125/2022-HĐCVHM/NHCTT430 ngày 10/5/2022, hạn mức vay 3.000.000.000đ (ba tỷ đồng).

 Anh Đặng Ngọc B và chị Trần Thị H thống nhất phân chia tài sản chung, nợ chung vợ chồng như sau:

+ Anh Đặng Ngọc B thống nhất giao lại toàn bộ 02 quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng cho chị Trần Thị H, tương ứng với việc chị Trần Thị H chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ số nợ 3.000.000.000đ (ba tỷ đồng) cùng lãi phát sinh tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần C2. Cụ thể:

++ Chị Trần Thị H được quyền sử dụng thửa đất số 349, tờ bản đồ 11, diện tích 247,5 m2, địa chỉ thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh, được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy Chứng nhận Quyền sử dụng đất số BA 742773 ngày 17/5/2010 đứng tên Trần Thị H, Đặng Ngọc B. Một căn nhà cấp bốn lợp mái được xây dựng trên thửa đất và các vật dụng trong gia đình.

++ Chị Trần Thị H được quyền sử dụng thửa đất số 286, tờ bản đồ 32, diện tích 157,7 m2, địa chỉ thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh, được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 925289 ngày 09/3/2018 đứng tên Trần Thị H, Đặng Ngọc B. Một căn nhà cấp bốn lợp mái được xây dựng trên thửa đất và vật dụng sinh hoạt gia đình.

Tương ứng với việc chị Trần Thị H chịu trách nhiệm trả số nợ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần C2 số tiền gốc là 3.000.000.000đ (ba tỷ đồng) cùng với lãi phát sinh.

+ Anh Đặng Ngọc B có trách nhiệm cùng với chị Trần Thị H để thực hiện thủ tục cấp, cấp đổi Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất nói trên cho chị Trần Thị H theo quy định của pháp luật.

 Chị Trần Thị H cùng với ông Trần Đình C1, sinh năm: 1959, bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1959, địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh (là bố, mẹ đẻ chị H) thống nhất giao lại cho anh Đặng Ngọc B quyền sử dụng đất số 1332, tờ bản đồ số 9, diện tích 273,6m2, địa chỉ: Tổ dân phố X, thị trấn L, huyện L, được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất số DA209472 ngày 24/3/2021 cho ông Trần Đình C1 và bà Nguyễn Thị H1. Thửa đất hiện đang thế chấp tại Ngân hàng N1, chi nhánh huyện L với số tiền 1.300.000.000đ (một tỷ ba trăm triệu đồng). Anh B chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ số nợ gốc trên cho Ngân hàng N1 chi nhánh huyện L trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải. Sau khi anh B thanh toán số tiền trên cho Ngân hàng N1, chi nhánh huyện L, ông Trần Đình C1, bà Nguyễn Thị H1 có trách nhiệm thực hiện thủ tục chuyển nhượng thửa đất trên sang cho anh Đặng Ngọc B theo đúng quy định của pháp luật (số tiền nợ tại Ngân hàng N1 chi nhánh huyện L (1.300.000.000đ, bằng chữ: Một tỷ ba trăm triệu đồng) đã được anh Đặng Ngọc B thanh toán toàn bộ (gốc và lãi) vào ngày 05/01/2024).

 Ngân hàng Thương mại Cổ phần C2 đồng ý với nội dung chị Trần Thị H và anh Đặng Ngọc B thỏa thuận. Do khoản nợ trên chưa đến thời hạn thanh toán nên Ngân hàng chưa yêu cầu chị H phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Khi đến hạn thanh toán khoản vay trên tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần C2 buộc chị Trần Thị H phải thực hiện đúng cam kết đã ký tại Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp giữa chị Trần Thị H và Ngân hàng Thương mại Cổ phần C2 (số dư nợ gốc: ba tỷ đồng, được thế chấp 02 quyền sử dụng đất: Thửa đất số 349, tờ bản đồ 11, diện tích 247,5 m2, địa chỉ thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh và thửa đất số 286, tờ bản đồ 32, diện tích 157,7 m2, địa chỉ thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh, cùng lãi phát sinh). Trường hợp chị Trần Thị H vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần C2 có quyền xử lý tài sản thế chấp theo cam kết tại Hợp đồng đã ký kết và nội dung các đương sự đã thống nhất thỏa thuận tại Tòa án.

+ Về chi phí phát sinh: Chị Trần Thị H tự nguyện chịu toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện thủ tục chuyển nhượng, cấp, cấp đổi quyền sử dụng đất có liên quan đến nội dung thỏa thuận giữa các bên.

+ Về án phí: Chị Trần Thị H tự nguyện chịu toàn bộ án phí.

Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 7 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Trần Thị H phải chịu 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, chị Trần Thị H đã nộp tạm ứng số tiền 49.000.000đ (bốn mươi chín triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012357 ngày 13 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Chị Trần Thị H được hoàn trả số tiền 48.850.000đ (bốn mươi tám triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ