vanban.org

Quyết định 01/2023/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 06/01/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị V về việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với ông Bùi Văn Đ.

Tuyên bố: Ông Bùi Văn Đ – sinh năm: 1967, địa chỉ: Ấp TL 1, xã PT, huyện TP, tỉnh Đồng Nai mất năng lực hành vi dân sự tại thời điểm ngày 01/6/2020 và hiện nay. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm. Số tiền 300.000đ (Ba tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "V - Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị V về việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với ông Bùi Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2023/QĐST-DSTân Phú, ngày 06 tháng 01 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người

mất năng lực hành vi dân sự”.

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Mai Văn Lợi.

Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Xuân Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên họp: Ông Phạm Văn Luật – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 238/2021/TLST-DS ngày 22 tháng 12 năm 2021 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 12/2022/QĐST-DS ngày 11 tháng 11 năm 2022, Quyết định tạm ngừng phiên họp số 01/2022/QĐST-DS ngày 22 tháng 11 năm 2022, Thông báo về việc mở lại phiên họp số 01/2022/TB -TA ngày 27 tháng 12 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị V – sinh năm: 1969.

Địa chỉ: Ấp TL 1, xã PT, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.

(bà V có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Trần Thị V trình bày:

Bà và ông Bùi Văn Đ – sinh năm: 1967, địa chỉ: Ấp TL 1, xã PT, huyện TP, tỉnh Đồng Nai kết hôn vào năm 1988. Năm 2014, ông Đ bị bệnh và được Bệnh viện đa khoa Thống Nhất – Đồng Nai chẩn đoán bị tắc nghẽn máu não cần phẫu thuật não. Sau khi phẫu thuật, mặc dù về thể chất đã ổn định nhưng về nhận thức thì không làm chủ được hành vi, mọi sinh hoạt cá nhân đều phải nhờ đến gia đình, không tự chăm sóc bản thân được. Gia đình đã đưa ông Đ đi điều trị nhiều nơi nhưng tình trạng bệnh của ông Đ vẫn không được cải thiện. Từ năm 2016 đến nay, ông Đ được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo diện Người khuyết tật nặng.

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bà yêu cầu tuyên bố ông Bùi Văn Đ mất năng lực hành vi dân sự trước, trong và sau ngày 01/6/2020. Tại Đơn xin rút một phần yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 27/12/2022, bà rút yêu cầu tuyên bố ông Đ trước ngày 01/6/2020 và từ 01/6/2020 đến thời điểm giám định.

Vì vậy, nay bà yêu cầu tuyên bố ông Bùi Văn Đ mất năng lực hành vi dân sự trong ngày 01/6/2020 và hiện nay.

Lý do yêu cầu: Để thực hiện việc giám hộ cho ông Đ trong các giao dịch dân sự và tham gia giải quyết vụ án dân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Thị V đã cung cấp những tài liệu, chứng cứ sau: Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của bà V và ông Đ (bản sao); Trích lục kết hôn (bản sao); Sổ lĩnh tiền trợ cấp xã hội hàng tháng của ông Đ (photo); Giấy ra viện ngày 10/02/2015 (bản sao); Phiếu CT-SCANNER các ngày 07/7/2014, 08/7/2014 (photo); Đơn yêu cầu vắng mặt ngày 15/11/2022 của bà V (bản chính); Đơn xin rút một phần yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 27/12/2022 của bà V (bản chính).

Để giải quyết việc dân sự, Tòa án đã tiến hành thu thập các chứng cứ sau: Hồ sơ bệnh án của ông Bùi Văn Đ tại Bệnh viện đa khoa Thống Nhất (bản sao); Hồ sơ bệnh án của ông Bùi Văn Đ tại Bệnh viện Chợ Rẫy (bản sao); Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 16/8/2022 đối với bà Trần Thị V; Các biên bản xác minh ngày 22/02/2022 đối với bà Trần Thị Cẩm N, bà Trần Thị T, bà Đoàn Thị Bích Ng, bà Nguyễn Thị Thu S, ông Đoàn Thanh B; Kết luận giám định pháp y tâm thần số 558/KL-VPYTW ngày 31/8/2022 của Viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hòa; Văn bản số 293/VPYTW ngày 23/12/2022 của Viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hòa.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên họp:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý việc dân sự đến ngày mở phiên họp, Tòa án đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Bà Trần Thị V có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên đề nghị Tòa án mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt người yêu cầu giải quyết việc dân sự.

- Về nội dung: Xét yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Trần Thị V về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với ông Bùi Văn Đ tại thời điểm ngày 01/6/2020 và hiện nay là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, vì vậy đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà V.

- Về lệ phí sơ thẩm: Bà Trần Thị V phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

Bà Trần Thị V yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với ông Bùi Văn Đ – sinh năm: 1967, địa chỉ: Ấp TL 1, xã PT, huyện TP, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật của việc dân sự là “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Bà Trần Thị V là người yêu cầu giải quyết việc dân sự đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự nhưng có đơn đề nghị vắng mặt. Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt bà V.

. Về nội dung yêu cầu:

Bà Bùi Thị Vân yêu cầu tuyên bố ông Bùi Văn Đ mất năng lực hành vi dân sự tại thời điểm ngày 01/6/2020 và tại thời điểm hiện nay.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ có đủ cơ sở xác định: Ông Bùi Văn Đ từ khi sinh ra phát triển bình thường. Đến năm 2014, ông Đ bị bệnh xuất huyết não/tăng huyết áp. Ông Đ được khám và điều trị tại Bệnh viện đa khoa khu vực Thống Nhất – tỉnh Đồng Nai và Bệnh viện Chợ Rẫy – Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi điều trị về, di chứng liệt ½ người phải, không thể tự đứng lên và đi lại được, ngày càng sa sút và suy giảm nhận thức dần, quên toàn bộ không nhớ gì, không nói được, không còn ý thức được việc gì, trở nên thờ ơ, vô cảm với mọi thứ xung quanh. Thỉnh thoảng ông Đ lên cơn co giật toàn thân một vài lần/tháng. Ăn uống, vệ sinh, chăm sóc bản thân hoàn toàn phụ thuộc vào gia đình. Từ năm 2016 đến nay, ông Đ nhận trợ cấp xã hội hàng tháng do thuộc diện khuyết tật nặng.

Ngày 04/01/2022, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 01/2022/QĐ-TCGĐ trưng cầu Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa tiến hành giám định tâm thần đối với ông Bùi Văn Đ.

Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 558/KL-VPYTW ngày 31/8/2022 của Viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hòa đối với ông Bùi Văn Đ, xác định:

“Về y học: Trước, trong, sau ngày 01/6/2020 và hiện nay: Đương sự bị bệnh Mất trí trong bệnh mạch máu (F01-ICD.10).

Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm ngày 01/6/2020 và hiện nay: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.

Căn cứ Điều 22 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 376, Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự thì yêu cầu của bà Trần Thị V về việc yêu cầu tuyên bố ông Bùi Văn Đ mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ nên được chấp nhận.

. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Theo quy định tại Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 4, Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án thì bà Trần Thị V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự.

. Xét quan điểm đề nghị giải quyết việc dân sự của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được chấp nhận.

Từ những nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

+ Khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 361, khoản 2 Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, khoản 1 Điều 376, Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự;

+ Điều 22 Bộ luật dân sự;

+ Điều 4, Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị V về việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với ông Bùi Văn Đ.

Tuyên bố: Ông Bùi Văn Đ – sinh năm: 1967, địa chỉ: Ấp TL 1, xã PT, huyện TP, tỉnh Đồng Nai mất năng lực hành vi dân sự tại thời điểm ngày 01/6/2020 và hiện nay.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm. Số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà V đã nộp tạm ứng lệ phí tại biên lai thu số 0002200 ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai chuyển thành lệ phí.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Quyết định này có thể bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ