vanban.org

Quyết định 01/2023/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 01/02/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Nguyễn Thị Mỹ.

Tuyên bố chị Nguyễn Kim L, sinh năm 1979, địa chỉ: Tổ 21, ấp C, xã G, huyện G1, tỉnh Tây Ninh mất năng lực hành vi dân sự. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Chị Nguyễn Thị M yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Kim L bị mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Nguyễn Thị Mỹ.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ DẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2023/QĐST-DSGò Dầu, ngày 16 tháng 01 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Võ Tuấn Anh.

Thư ký phiên họp: Bà Hồ Thị Ngọc Dung – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên họp: Ông Lương Bá Xanh – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 17/2022/TLST-DS ngày 02 tháng 12 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2023/QĐST-DS ngày 05 tháng 01 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1972 (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị R, sinh năm 1948 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Tổ 21, ấp C, xã G, huyện G1, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự chị Nguyễn Thị M trình bày:

Cha của chị là ông Nguyễn Văn H (sinh năm 1935, chết ngày 20-3-2017) và mẹ của chị là bà Ngô Thị R. Cha mẹ của chị chung sống có 02 người con gồm chị và chị Nguyễn Kim L, sinh năm 1979, địa chỉ: Tổ 21, ấp C, xã G, huyện G1, tỉnh Tây Ninh. Hiện nay chị L không có chồng, con nên chị L đang sống chung nhà với chị và bà Ren.

Từ nhỏ chị L đã có biểu hiện bị chậm phát triển về thể chất, tinh thần do ảnh hưởng từ chất độc màu da cam, chị L không đi học được do không có khả năng học hành nên không biết chữ, chị L có thể tự vệ sinh, ăn uống, làm được những công việc đơn giản nhưng không biết cụ thể, rõ ràng, chỉ biết tiền với mệnh giá nhỏ và không biết sử dụng tiền. Vì vậy, Ủy ban nhân dân xã G, huyện G1 có cấp Phiếu lĩnh tiền trợ cấp bảo trợ xã hội cho chị L để được hưởng chế độ từ hơn 07 năm nay.

Vì cần bảo đảm quyền lợi trong giao dịch dân sự có liên quan đến quyền sử dụng đất của cha mẹ chị nên chị yêu cầu Tòa án tuyên bố chị L mất năng lực hành vi dân sự. Ngoài ra, chị không yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị R trình bày:

Bà là mẹ ruột của chị M và chị L nên bà thống nhất với toàn bộ ý kiến cũng như yêu cầu của chị M. Bà đồng ý yêu cầu Tòa án tuyên bố chị L mất năng lực hành vi dân sự. Ngoài ra, bà không yêu cầu gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh là ông Lương Bá Xanh phát biểu:

Về việc chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Thư ký và đương sự chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án căn cứ Điều 22 của Bộ luật Dân sự: Chấp nhận yêu cầu của chị M, tuyên bố chị L mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

“Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự đang cư trú tại xã G, huyện G1, tỉnh Tây Ninh nên vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện G1, tỉnh Tây Ninh theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự:

Chị M và bà R vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp vắng mặt chị M và bà R là phù hợp với khoản 2 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của đương sự:

Chị M cho rằng em gái của chị là chị L bị chậm phát triển về thể chất, tinh thần từ nhỏ do Hội chứng Down, chỉ sống quanh quẩn trong nhà, không có bạn bè, không biết sử dụng tiền, không có khả năng học hành, chỉ làm được những công việc đơn giản, có khả năng tự vệ sinh, ăn uống nhưng cũng cần sự giúp đỡ của người thân. Vì cần bảo đảm quyền lợi trong giao dịch dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất của cha mẹ chị nên chị yêu cầu Tòa án tuyên bố chị L mất năng lực hành vi dân sự. Bà R là mẹ ruột của chị M và chị L cũng thống nhất với yêu cầu như trên của chị M.

Xét thấy, tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số: 04/KL-VPYTW ngày 03-01-2023 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa kết luận đối với chị L theo Quyết định trưng cầu giám định số: 21/2022/QĐ-TA ngày 15-12-2022 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh:

“Về Y học: Hiện nay: Đương sự bị bệnh Chậm phát triển tâm thần nặng/Hội chứng Down (F72/Q90 – ICD.10). Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hiện nay: Đương sự mất năng lực nhận thức và điều khiển hành vi”.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 22 của Bộ luật Dân sự: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần”.

Từ những phân tích trên, xét thấy việc chị M yêu cầu tuyên bố chị L mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ và phù hợp nên Tòa án chấp nhận.

Xét toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G1, tỉnh Tây Ninh là có căn cứ và phù hợp nên Tòa án chấp nhận.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Chị L là người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự nên phải chịu lệ phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30-12-2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 361, khoản 2 Điều 367, Điều 371, khoản 1 Điều 372 và Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 22 của Bộ luật Dân sự và khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30-12-2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Nguyễn Thị Mỹ.

Tuyên bố chị Nguyễn Kim L, sinh năm 1979, địa chỉ: Tổ 21, ấp C, xã G, huyện G1, tỉnh Tây Ninh mất năng lực hành vi dân sự.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Chị M phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng mà chị M đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0024964 ngày 02 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận chị M đã nộp xong tiền lệ phí.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Đương sự không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định giải quyết việc dân sự được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ