- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Sơn và ĐP - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 16/2021/KN-HS ngày 05/11/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Căn cứ chính? Điều 382 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 388 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 391 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Quyết định số: 01/2022/HS-GĐT Ngày 11 tháng 01 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cường.
Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm: Ông Lê Tự và Ông Nguyễn Văn Tào.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Thắng - Thẩm tra viên Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Minh Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:
* Người bị kết án:
1. Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1997 tại Đà Nẵng; trú tại: số 105 đường NH, phường N, quận ST, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 12/12; con ông Nguyễn Ngọc C và bà Lê Thị Đ; tiền án, tiền sự: không. Bị bắt tạm giữ ngày 22/4/2020; đang tạm giam tại Trại tạm giam Hòa Sơn, Công an thành phố Đà Nẵng.
2. Ông Trường P, sinh năm 2000 tại Đà Nẵng; trú tại: K02/7 ĐK, HKB, quận LC, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hoá: 9/12; con ông Ông Văn Q và bà Nguyễn Thị Ánh L; tiền án; tiền sự: không. Bị bắt tạm giữ ngày 22/4/2020; đang tạm giam tại Trại tạm giam Hòa Sơn, Công an thành phố Đà Nẵng.
3. Phạm Vương Thiên Q, sinh năm 1997 tại Đà Nẵng; trú tại: tổ 42, phường HTĐ, quận HC, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ văn hoá: 8/12; con ông Vương Văn C và bà Phạm Thị D; tiền án: không; tiền sự: ngày 19/12/2019 bị Công an quận HC, thành phố Đà Nẵng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị bắt tạm giữ ngày 22/4/2020; đang tạm giam tại Trại tạm giam Hòa Sơn, Công an thành phố Đà Nẵng.
4. Phan Quất O, sinh năm 1999 tại Quảng Nam; trú tại: thôn ĐK, xã ĐP, thị xã ĐB, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: sinh viên; trình độ văn hoá: 12/12; con ông Phan Văn H và bà Lê Thị Nh; tiền án; tiền sự: không. Bị bắt tạm giữ ngày 22/4/2020 đến ngày 01/6/2020 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh; hiện đang tại ngoại.
5. Nguyễn Phú Đ, sinh năm 1999 tại Quảng Nam; trú tại: thôn ĐL, xã ĐN, huyện ĐL, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 9/12; con ông (không rõ) và bà Nguyễn Thị Sương Ph; tiền án; tiền sự: không. Bị bắt tạm giữ ngày 22/4/2020; đang tạm giam tại Trại tạm giam Hòa Sơn, Công an thành phố Đà Nẵng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Bùi Quang Ph1, sinh năm 1999; trú tại: thôn ĐP, xã ĐH, huyện ĐL, tỉnh Quảng Nam.
- Ông Nguyễn Văn Ph, sinh năm 2000; trú tại: số 59 đường LS, phường HCN, quận HC, thành phố Đà Nẵng.
- Bà Đặng Thị H, sinh năm 1995; trú tại: thôn HD, phường ĐN, thị xã ĐB, tỉnh Quảng Nam.
- Bà Huỳnh Thị MM, sinh năm 2000; trú tại: tổ 34, phường MT, quận ST, thành phố Đà Nẵng.
- Bà Trần Hải M, sinh năm 1996; trú tại: số K16/19 đường CL, quận TK, thành phố Đà Nẵng.
- Ông Phan Văn H, sinh năm 1971; trú tại: thôn Đ K, xã ĐPh, huyện ĐB, tỉnh Quảng Nam.
- Bà Nguyễn Thị Kiều V, sinh năm 2000; trú tại: số K718/36 đường TCV, quận TK, thành phố Đà Nẵng.
NHẬN THẤY:
Khoảng 23 giờ ngày 21/4/2020, tại phòng trọ của Nguyễn Phú Đ, các đối tượng gồm: Nguyễn Ngọc S, Ông Trường P, Phan Quất O, Nguyễn Phú Đ và Phạm Vương Thiên Q cùng nhau thống nhất góp tiền để mua ma túy, rồi thuê địa điểm để cùng nhau sử dụng. Do cả nhóm không có tiền, nên Nguyễn Ngọc S đã liên hệ mượn tiền để mua ma túy trước, sau đó sẽ chia đều rồi góp tiền trả lại, dự kiến khoảng từ 1 đến 1,5 triệu đồng/người. Sau khi S mượn được tiền thì liên hệ và chuyển khoản cho Hoàng Châu V số tiền 8.000.000 đồng để mua 05 viên thuốc lắc và 01 chỉ ma túy loại “Khay” (tương đương với 2,5 gam ma túy loại Ketamine). Ông Trường P thì liên hệ thuê phòng tại khách sạn Vip House (số 82 đường An HĐ, phường AHĐ, quận ST, thành phố Đà Nẵng), rồi cùng với S, O, Đ, Q đến nhận Phòng 603. Khi vào phòng, S bỏ số ma túy đã mua ra bàn để S và các đối tượng khác cùng sử dụng (trong đó: S, Đ, Q, P, O mỗi người sử dụng ½ viên ma túy và sử dụng một ít ma túy loại Ketamine). Ngoài ra, còn có các đối tượng khác, gồm: Trần Văn Ph (Q rủ đến để chơi); Trần Hải M (là bạn gái của P); Nguyễn Thị KV (là bạn gái của Q); Nguyễn Văn Ph (là bạn của O; là người trước đó O rủ đi chơi và là người O nhờ đến đón Q đến khách sạn; Huỳnh MM (bạn gái của Văn Ph, được Ph rủ đến để đi chơi cùng O) và Đặng Thị H (là bạn gái của O, được O rủ đến để đi chơi với Ph). Khi đến Phòng 603, khi thấy có ma túy trên bàn, thì mỗi người lấy ½ viên ma túy thuốc lắc sử dụng (trừ KV); riêng Văn Ph và Ph1 thì có sử dụng thêm một ít ma túy loại Ketamine.
Vào lúc 04 giờ 30 phút ngày 22/04/2020, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận ST phối hợp với Công an phường AHĐ, quận ST, thành phố Đà Nẵng tiến hành kiểm tra hành chính Phòng 603 của khách sạn Vip House. Tại thời điểm kiểm tra, trong phòng có 11 đối tượng gồm: Nguyễn Ngọc S, Ông Trường P, Phạm Vương Thiên Q, Phan Quất O, Nguyễn Phú Đ, Bùi Quang Ph1, Nguyễn Văn Ph, Đặng Thị H, Huỳnh Thị MM, Nguyễn Thị KV và Trần Hải M. Các đối tượng trên (trừ KV) đều thừa nhận đã vừa sử dụng trái phép chất ma túy; số ma túy còn lại chưa sử dụng hết bị lực lượng Công an quận ST phát hiện bắt quả tang thu giữ cùng tang vật.
Tại Kết luận giám định số 130/GĐ-MT ngày 28/4/2020, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. Đà Nẵng xác định: Tinh thể màu trắng kí hiệu S gửi giám định là ma túy loại Ketamine, khối lượng mẫu tinh thể S: 2,397gam.
Tại Bản kết luận điều tra số 90 ngày 16/7/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận ST, thành phố Đà Nẵng đề nghị truy tố Nguyễn Ngọc S, Ông Trường P, Phạm Vương Thiên Q, Phan Quất O, Nguyễn Phú Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Ngày 03/8/2020, Viện kiểm sát nhân dân quận ST, thành phố Đà Nẵng ban hành Quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung số 04/QĐ-VKS với nội dung điều tra làm rõ nhân thân, lai lịch đối với Hoàng Châu Vĩ.
Tại Bản kết luận điều tra bổ sung số 118 ngày 02/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận ST, thành phố Đà Nẵng cho rằng chưa đủ căn cứ chứng minh hành vi phạm tội của Hoàng Châu V; giữ nguyên nội dung đã đề nghị truy tố Nguyễn Ngọc S, Ông Trường P, Phạm Vương Thiên Q, Phan Quất O, Nguyễn Phú Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Ngày 30/10/2020, Viện kiểm sát nhân dân quận ST, thành phố Đà Nẵng ban hành Quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung số 06/QĐ-VKS với nội dung điều tra làm rõ nhân thân, lai lịch đối với Hoàng Châu V. Củng cố chứng cứ để xem xét làm rõ tội danh của các bị can là “Tàng trữ trái phép chất ma túy” hay “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tại Bản kết luận điều tra bổ sung số 05 ngày 28/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận ST, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên nội dung đã đề nghị truy tố Nguyễn Ngọc S, Ông Trường P, Phạm Vương Thiên Q, Phan Quất O, Nguyễn Phú Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Đề nghị truy tố bổ sung đối với Hoàng Châu V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tại Cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 20/01/2021, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận ST, TP. Đà Nẵng truy tố bị cáo Hoàng Châu V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS; truy tố các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Ông Trường P, Phan Quất O, Nguyễn Phú Đ, Phạm Vương Thiên Q bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Ngày 04/3/2021, Tòa án nhân dân quận ST, thành phố Đà Nẵng ban hành Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 07/2021/HSST-QĐ yêu cầu điều tra bổ sung các vấn đề:
“1. Xác định nhân thân của các bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã bị xử lý về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hay chưa;
2. Củng cố thêm chứng cứ về hành vi góp tiền, bố trí, sắp xếp, sử dụng phương tiện, cung cấp ma túy… để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy
3. Làm rõ vai trò của Trịnh Công Sơn khi cho các bị cáo thuê phòng để tổ chức sử dụng ma túy”.
Ngày 19/4/2021, Viện kiểm sát nhân dân quận ST, thành phố Đà Nẵng ban hành Văn bản số 41/CV-VKS-ST chuyển lại hồ sơ vụ án với nội dung: “Những vấn đề mà Tòa án nhân dân quận ST yêu cầu trong Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung đã được làm rõ trong hồ sơ; không có căn cứ xử lý các bị can về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, nên giữ nguyên quan điểm truy tố tại Cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 20/01/2021”.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2021/HSST ngày 16/7/2021, Tòa án nhân dân quận ST, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
“Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Phạm Vương Thiên Q, Ông Trường P, Nguyễn Phú Đ và Phan Quất O phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; áp dụng thêm điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với Phan Quất O; xử phạt:
+ Nguyễn Ngọc S 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/4/2020.
+ Phạm Vương Thiên Q 03 (ba) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/4/2020.
+ Ông Trường P 03 (ba) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/4/2020.
+ Nguyễn Phú Đ 03 (ba) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 22/4/2020.
+ Phan Quất O 02 (hai) năm tù, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 22/4/2020 đến ngày 01/6/2020. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù còn lại là 01 (một) năm 10 (mười) tháng 19 (mười chín) ngày tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án”.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định tội danh và hình phạt đối với Hoàng Châu V, hình phạt bổ sung, án phí, xử lý vật chứng và công bố quyền kháng cáo.
Ngày 11/8/2021, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 653/QĐ-VKSĐN-P7 với nội dung đề nghị hủy một phần Bản án sơ thẩm theo hướng truy tố các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Ông Trường P, Phan Quất O, Nguyễn Phú Đ, Phạm Vương Thiên Q bị truy tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và xem xét vai trò đồng phạm của Nguyễn Văn Phúc.
Ngày 15/10/2021, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có Quyết định số 758/QĐ-VKSĐN với nội dung rút toàn bộ quyết định kháng nghị phúc thẩm nêu trên.
Ngày 15/10/2021 Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng ban hành Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm số 103/2021/HSPT - QĐ đối với các bị cáo trên.
Ngày 20/10/2021, Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng có Văn bản số 902/2021/CV-TA đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên với lý do: Tòa án cấp sơ thẩm kết tội các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là không đúng tội danh và có dấu hiệu bỏ lọt hành vi phạm tội của Nguyễn Văn Phúc.
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 16/2021/KN-HS ngày 05/11/2021, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, hủy Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm số 103/2021/HSPT - QĐ ngày 15/10/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng và một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2021/HSST ngày 16/7/2021 của Tòa án nhân dân quận ST, thành phố Đà Nẵng để điều tra lại theo đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
XÉT THẤY:
. Khoảng 22h ngày 21/4/2020, Nguyễn Ngọc S, Ông Trường P, Phan Quất O, Nguyễn Phú Đ, Phạm Vương Thiên Q cùng nhau nhậu tại phòng trọ của Đ và cả nhóm thống nhất góp tiền để mua ma túy về sử dụng. Do cả nhóm không có tiền, nên Nguyễn Ngọc S đã liên hệ mượn tiền để mua ma túy trước, sau đó sẽ chia đều rồi góp tiền trả lại, dự kiến khoảng từ 1 đến 1,5 triệu đồng/người. Sau khi S mượn được tiền thì liên hệ và chuyển khoản cho Hoàng Châu V số tiền 8.000.000 đồng để mua 05 viên thuốc lắc và 01 chỉ ma túy loại “Khay” (tương đương với 2,5 gam ma túy loại Ketamine). Oai sử điều khiển xe ô tô chở Sơn, Đông, Trường Phúc đến điểm Hoàng Châu V đã hẹn để nhận ma túy (Vĩ ném ma túy qua cửa kính vào xe ô tô).
. Sau khi mua được ma túy, Ông Trường P liên hệ, thuê phòng khách sạn để cả nhóm làm địa điểm sử dụng ma túy. Đồng thời, cùng nhau rủ rê thêm một số đối tượng đến khách sạn Vip House để cùng nhau sử dụng, cụ thể: Phạm Vương Thiên Q rủ Bùi Quang Ph1; Phan Quất O gọi điện thoại rủ Nguyễn Văn Ph và Đặng Thị H; Nguyễn Văn Ph rủ thêm Trần Hải M, Huỳnh Thị MM; sau đó, O nhờ Ph dùng xe ô tô đến đón Q, Ph cùng với KV, M đến khách sạn. Khi vào Phòng 603 của khách sạn Vip House, Nguyễn Ngọc S bỏ ma tuý thuốc lắc ra bàn và xào ma tuý Katemine ra đĩa sứ cho mọi người sử dụng. Khi đến khách sạn thì Bùi Quang Ph1, Nguyễn Văn Ph, Đặng Thị H, Trần Hải M và Huỳnh Thị MM đều sử dụng trái phép chất ma túy.
. Như vậy Nguyễn Ngọc S, Ông Trường P, Phan Quất O, Nguyễn Phú Đ và Phạm Vương Thiên Q đã có hành vi bố trí, sắp xếp, điều hành con người, phương tiện; cung cấp ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ… để Bùi Quang Ph1, Nguyễn Văn Ph, Đặng Thị H, Trần Hải M và Huỳnh Thị MM sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự. Các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự là sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.
. Đối với Nguyễn Văn Ph: hành vi của Nguyễn Văn Ph có dấu hiệu cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” với vai trò đồng phạm giúp sức cho các bị cáo khác theo quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự, cần làm rõ trong quá trình điều tra lại.
. Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2021/HSST ngày 16/7/2021 của Tòa án nhân dân quận ST, thành phố Đà Nẵng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng ra Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm số 103/2021/HSPT - QĐ ngày 15/10/2021. Việc Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm nêu trên là đúng trình tự thủ tục tố tụng; tuy nhiên, để giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật, cần phải hủy Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm và một phần Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên để điều tra lại theo đúng quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 382; khoản 3 Điều 388; Điều 391 Bộ luật tố tụng Hình sự;
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 16/2021/KN-HS ngày 05/11/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
2. Hủy Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm số 103/2021/HSPT - QĐ ngày 15/10/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng và một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2021/HSST ngày 16/7/2021 của Tòa án nhân dân quận ST, thành phố Đà Nẵng đối với phần trách nhiệm hình sự của Nguyễn Ngọc S, Ông Trường P, Phạm Vương Thiên Q, Phan Quất O và Nguyễn Phú Đ để điều tra lại theo đúng quy định pháp luật.
3. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để điều tra lại theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật tố tụng Hình sự.
4. Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Đà Nẵng; (02 bản kèm hồ sơ vụ án); - TANDTC - Vụ I; - TAND Tp. Đà Nẵng; - VKSND Tp. Đà Nẵng; - Công an Tp. Đà Nẵng; - TAND quận ST; - VKSND quận ST; - Công an quận ST; - Cơ quan THA HS Công an quận ST; - Trại tạm giam Hòa Sơn - CA Tp. Đà Nẵng (10 bản, để lưu và giao các bị cáo đang tạm giam); - Bị cáo Phan Quất O (theo địa chỉ nêu trên); - Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (theo địa chỉ nêu trên); - Lưu: Phòng GĐKT I (03 bản), HCTP, LTHS. HỘI ĐỒNG GIÁM ĐỐC THẨM CÁC THẨM PHÁN Vũ Thanh Liêm Lê Phước Thanh | TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Cường THẨM PHÁN – CHỦ TỌA Đặng Kim Nhân |