vanban.org

Quyết định 01/2021/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 20/01/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Phạm Thị V.

Tuyên bố anh Nguyễn Minh T4, sinh năm 1984; cư trú tại: Ấp T1, xã T2, huyện T3, tỉnh Tây Ninh mất năng lực hành vi dân sự. Công nhận ông Nguyễn Văn Tr là người giám hộ cho anh Nguyễn Minh T4. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Phạm Thị V - Nguyễn Minh T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Phạm Thị V.
  • Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 57 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN ÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2021/QĐST-DSTân Biên, ngày 20 tháng 01 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Mai Thị Kim Thu.

Thư ký phiên họp: Bà Lâm Thị Ngọc Triều.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Thu Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tiến hành mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2020/TLST-DS ngày 17 tháng 11 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2021/QĐST-DS ngày 07 tháng 01 năm 2021 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị V, sinh năm 1964; có mặt.

Cư trú tại: Tổ 3, ấp T1, xã T2, huyện T3, tỉnh Tây Ninh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn Minh T4, sinh năm 1984; vắng mặt.

Cư trú tại: Tổ 3, ấp T1, xã T2, huyện T3, tỉnh Tây Ninh.

+ Ông Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1959; vắng mặt.

Tổ 3, ấp T1, xã T2, huyện T3, tỉnh Tây Ninh.

+ Anh Nguyễn Minh C, sinh năm 1986; vắng mặt.

Tổ 3, ấp T1, xã T2, huyện T3, tỉnh Tây Ninh.

+ Anh Nguyễn Minh T6, sinh năm 1988; vắng mặt.

Tổ 3, ấp T1, xã T2, huyện T3, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu ngày 13/11/2020 và các lời khai của bà Phạm Thị V trình bày:

Bà là mẹ ruột của anh Nguyễn Minh T4. Bà và ông Nguyễn Văn T5 là vợ chồng, chung sống có 03 người con trai gồm: Nguyễn Minh T4, sinh năm 1984; Nguyễn Minh C, sinh năm 1986; Nguyễn Minh T6, sinh năm 1988. Hiện anh T4 và anh C sống ở nhà riêng, còn anh T6 đang sống cùng cha mẹ.

Anh Nguyễn Minh T4 đã có vợ là Trần Thị Lệ T7. Do quá trình chung sống vợ chồng mâu thuẫn nên vào năm 2017 anh T4 đã ly hôn với chị Trinh theo Quyết định thuận tình ly hôn số 346/2017/QĐST-HNGĐ ngày 29/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Từ trước đến nay anh T4 vẫn sống ở sát vách nhà bà V thuộc tổ 3, Tổ 3, ấp T1, xã T2, huyện T3, tỉnh Tây Ninh.

Anh T4 và chị T7 có 03 con chung gồm cháu Nguyễn Thị Bé N, sinh ngày 14/6/2008, cháu Nguyễn Minh TH1, sinh ngày 27/5/2013 và cháu Nguyễn Minh TH2, sinh ngày 27/5/2013. Khi ly hôn, anh T4 và chị T7 thỏa thuận giao 01 con chung là cháu Ngọc cho anh T4 nuôi dưỡng, chị T7 nuôi 02 con chung là cháu TH1 và cháu TH2, không ai cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Hiện nay chị T7 đã đi lấy chồng nước Trung Quốc nên 03 con chung đang sống cùng anh T4 nhưng do anh T4 bị bệnh tâm thần không tự chăm sóc được cho bản thân nên 03 con chung của anh T4 phải do bà V, ông T chăm sóc, nuôi dưỡng.

Bà V nhận thấy anh Nguyễn Minh T4 có biểu hiện bị bệnh tâm thần từ năm 2013, gia đình đã đưa anh T4 đi khám và điều trị tại Bệnh viện tâm thần T4 ương 2, bác sỹ chuẩn đoán anh T4 bị bệnh tâm thần phân liệt thể không biệt định (Mã: ICD-10;F20.3), nên anh T4 không đủ năng lực nhận thức quyết định các vấn đề đảm bảo tính pháp lý liên quan đến anh T4.

Do đó, nay bà V yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Minh T4 mất năng lực hành vi dân sự nhằm để gia đình làm thủ tục đăng ký đất đai.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ ông Nguyễn Văn Tr (cha ruột của anh T4) trình bày:

Ông và bà Phạm Thị V là cha ruột, mẹ ruột của anh Nguyễn Minh T4. Quá trình chung sống ông, bà có 03 người con chung đúng như bà V trình bày.

Đối với anh Nguyễn Minh T4 có vợ, con nhưng anh T4 đã ly hôn vợ năm 2017. Sau khi ly hôn, anh T4 vẫn sống cùng 03 người con tại nhà riêng do ông bà cho mượn nhà ở nhờ, sát vách nhà ông bà thuộc tổ 3, ấp T1, xã T2, huyện T3, tỉnh Tây Ninh. Quá trình sống tại địa phương thì anh T4 có biểu hiện không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.

Nay ông đồng ý với ý kiến của bà V đề nghị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự đối với anh Nguyễn Minh T4 và ông tự nguyện đồng ý làm người giám hộ cho anh T4 và hiện ông cũng là người trực tiếp chăm sóc cho anh T4, có đủ điều kiện làm người giám hộ cho anh T4.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Nguyễn Minh C, anh Nguyễn Minh T6 (các em ruột của anh T4) trình bày:

Các anh thống nhất như lời trình bày của mẹ ruột là bà Phạm Thị V, đề nghị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự đối với anh Nguyễn Minh T4 và đồng ý để cha ruột Nguyễn Văn Tr làm người giám hộ cho anh T4 vì hiện anh T4 đang do cha Nguyễn Văn Tr và mẹ Phạm Thị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng do anh T4 bị tâm thần, không nhận thức làm chủ được hành vi của mình, nên hiện chỉ có cha ruột Nguyễn Văn Tr có đủ điều kiện làm người giám hộ cho anh T4.

* Tại phiên họp:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Phạm Thị V: Vẫn giữ yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự đối với anh Nguyễn Minh T4.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Tr, anh Nguyễn Minh C, anh Nguyễn Minh T6: Có đơn đề nghị vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

+ Về thủ tục thụ lý, quá trình giải quyết và trình tự tiến hành phiên họp Thẩm phán và Thư ký phiên họp đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết yêu cầu việc dân sự: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị V tuyên bố anh Nguyễn Minh T4 mất năng lực hành vi dân sự; về lệ phí bà V phải chịu lệ phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh nhận định:

Về tố tụng: Ông Nguyễn Văn Tr anh Nguyễn Minh C, anh Nguyễn Minh T6 đều có đơn đề nghị Tòa án vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành họp việc dân sự vắng mặt ông Tr, anh C, anh T6.

Người yêu cầu là bà Phạm Thị V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Trựu là cha ruột và các anh Nguyễn Minh C, anh Nguyễn Minh T6 là em ruột có văn bản thống nhất với ý kiến của bà V xác nhận anh T4 bị bệnh tâm thần.

Căn cứ vào Kết luận giám định pháp y tâm thần số 06/KL-VPYTW ngày 06/01/2021 của Viện pháp y tâm thần T4 ương Biên Hòa giám định tâm thần đối với anh Nguyễn Minh T4 đã kết luận:

“Về y học: Hiện nay đương sự bị bệnh Tâm thần phân liệt thể không biệt định (F20.3-ICD.10)

Về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi: Hiện nay đương sự mất năng lực nhận thức và điều khiển hành vi”.

Do đó, yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự của bà Phạm Thị V đối với anh Nguyễn Minh T4 là có căn cứ, cần tuyên bố anh Nguyễn Minh T4 là người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 376, Điều 378 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về người giám hộ của anh Nguyễn Minh T4, xét thấy: Anh Nguyễn Minh T4 là người đã thành niên, có vợ và đã ly hôn, 03 con chưa đủ 18 tuổi nhưng anh T4 mất năng lực hành vi dân sự nên cần phải có người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giám hộ, cha ruột anh T4 là ông Nguyễn Văn Tr và mẹ ruột là bà Phạm Thị V, các em ruột là anh Nguyễn Minh C, anh Nguyễn Minh T6 đã có văn bản thống nhất đề nghị cử ông Nguyễn Văn Tr là người giám hộ cho anh T4 và hiện ông Tr là người trực tiếp chăm sóc cho anh T4, có đủ điều kiện cần thiết để thực hiện việc giám hộ nên cần giao cho ông Nguyễn Văn Tr là người giám hộ cho anh T4 là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 53 Bộ luật Dân sự.

Ông Nguyễn Văn Tr có các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 57, 58, 59 Bộ luật Dân sự.

Về chi phí giám định: Ghi nhận bà Phạm Thị V tự nguyện chịu, đã ứng nộp và chi phí xong.

Về lệ phí: Bà Phạm Thị V phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 22, Điều 57, 58, 59 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Phạm Thị V.

Tuyên bố anh Nguyễn Minh T4, sinh năm 1984; cư trú tại: Ấp T1, xã T2, huyện T3, tỉnh Tây Ninh mất năng lực hành vi dân sự.

Công nhận ông Nguyễn Văn Tr là người giám hộ cho anh Nguyễn Minh T4.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004706 ngày 17 tháng 11 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận bà V đã nộp xong lệ phí.

3. Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định/.

Cỡ chữ