vanban.org

Quyết định 01/2018/QĐPT-KDTM — Yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên theo quy định của pháp luât về doanh nghiệp

TAND tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 16/11/2018 Kinh doanh thương mại Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/11/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty Cổ phần D, sửa một phần Quyết định số 01/2018/QĐST-KDTM ngày 16-10-2018 của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, cụ thể:

Chấp nhận một phần yêu cầu của Công ty Cổ phần Q, ông Thân Đình S, ông Trần Việt D, bà Lý Bích L và ông Hoàng Minh V; hủy bỏ Điều 9 của Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông bất thường số 73/NQ-ĐHĐCĐ ngày 09 tháng 8 năm 2017 của Công ty Cổ phần D, nội dung về phương án phát hành cổ phiếu, tăng vốn điều lệ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên theo quy định của pháp luât về doanh nghiệp — án kinh doanh thương mại — "Yêu cầu hủy Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông của Công ty Cổ phần D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty Cổ phần D, sửa một phần Quyết định số 01/2018/QĐST-KDTM ngày 16-10-2018 của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, cụ thể:
  • Căn cứ chính? Điều 126 Luật Doanh nghiệp; Điều 136 Luật Doanh nghiệp; Điều 138 Luật Doanh nghiệp
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2018/QĐPT-KDTM

QUYẾT ĐỊNH

PHÚC THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Chu Lệ Hường;

Các Thẩm phán: Bà Lương Thị Hồng;

Ông Hồ Đức Châm;

Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Hồng Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn;

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên họp: Bà Nông Tuyết Mai – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn mở phiên họp phúc thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2018/TLPT-KDTM ngày 29 tháng 10 năm 2018 về việc yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông.

Do Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2018/QĐST-KDTM ngày 16 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn bị kháng cáo.

Theo Quyết định mở phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2018/QĐPT-KDTM ngày 06 tháng 11 năm 2018, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

1. Công ty Cổ phần Q; địa chỉ: Thôn N, xã Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn;

Người đại diện theo pháp luật của Công ty Cổ phần Q: Ông Lâm Bảo K; địa chỉ: Thôn N, xã Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn - vắng mặt;

2. Ông Thân Đình S; địa chỉ: Số 32, ngõ 2, đường L, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn - vắng mặt;

3. Ông Trần Việt D (đã chết);

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Việt D: Ông Trần Việt P; địa chỉ: Số 15, ngõ 25, đường B, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn

- vắng mặt;

4. Bà Lý Bích L; địa chỉ: Số 169, đường N, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn - vắng mặt;

5. Ông Hoàng Minh V; địa chỉ: Số 253, đường L, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn - vắng mặt;

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần Q, ông Thân Đình S, ông Trần Việt P, bà Lý Bích L, ông Hoàng Minh V: Ông Vũ Văn Đ; địa chỉ: Số 11, ngõ 3B, đường L, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn (được ủy quyền theo các văn bản ủy quyền ngày 17-5-2018, ngày 30-7-2018 và ngày 20-9-2018)

- có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần D;

Người đại diện theo pháp luật của Công ty Cổ phần D: Ông Phạm Đình B; địa chỉ: Số 1A, đường N, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn - có mặt;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty Cổ phần D: Ông Chu Khắc M, Luật sư Văn phòng Luật sư C, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Lạng Sơn; địa chỉ: Số 290, đường T, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn - có mặt.

- Người kháng cáo: Công ty Cổ phần D.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo tài liệu có trong hồ sơ việc dân sự, nội dung việc dân sự được tóm tắt như sau:

Công ty Cổ phần D được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Lạng Sơn cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu ngày 10-3-2006, đăng ký thay đổi lần thứ 7 ngày 29-5-2017. Công ty Cổ phần D có vốn điều lệ là 29.579.000.000 đồng, mệnh giá 10.000 đồng/cổ phần, tương ứng với 2.957.900 cổ phần.

Ngày 05-7-2017, Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần D ban hành Nghị quyết số 57/NQ-HĐQT về việc chốt thời gian tổ chức Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2017 vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 21-7-2017 tại Hội trường Nhà hàng H. Cùng ngày, Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần D ban hành Thông báo số 58/TB-DLXNK về việc mời họp Đại hội đồng cổ đông và gửi tài liệu Đại hội cho cổ đông trên website của Công ty Cổ phần D. Tuy nhiên, do số cổ phần biểu quyết dự Đại hội tương đương 55,05%, không đủ tỷ lệ theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Điều lệ Công ty Cổ phần D được thông qua ngày 25-4-2013 (sau đây viết tắt là Điều lệ Công ty năm 2013) nên cuộc họp Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2017 lần 1 không đủ điều kiện tiến hành.

Ngày 21-7-2017, Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần D ban hành Thông báo số 66/TB-DLXNK về việc mời họp Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2017 lần 2. Thông báo mời họp có nội dung hướng dẫn truy cập website của Công ty Cổ phần D để xem tài liệu liên quan đến Đại hội; thời gian tổ chức Đại hội là 8 giờ 30 phút ngày 09-8-2017 tại Nhà hàng H. Ngày 03-8-2017, Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần D ban hành Tờ trình số 70/T.Tr-DL-XNK, trình Đại hội đồng cổ đông phương án phát hành cổ phiếu, tăng vốn điều lệ. Nội dung này được bổ sung vào chương trình họp Đại hội đồng cổ đông.

Ngày 09-8-2017, Công ty Cổ phần D đã tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2017 lần 2. Tổng số cổ đông hợp lệ tham dự Đại hội là 19 người, chiếm 69,62% cổ phần có quyền biểu quyết; số cổ đông và người đại diện theo ủy quyền ở lại tham dự Đại hội là 15 người, sở hữu và đại diện 1.739.445 cổ phần; số cổ đông ra về không gửi lại phiếu biểu quyết là 04 người, sở hữu và đại diện 319.715 cổ phần. Đại hội đã thông qua Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông số 73/NQ-ĐHĐCĐ ngày 09-8-2017 (viết tắt là Nghị quyết số 73/NQ-ĐHĐCĐ ngày 09-8-2017), trong đó có nội dung về Phương án phát hành cổ phiếu, tăng vốn điều lệ theo Tờ trình số 70-TTr/HĐQT ngày 03-8-2017 của Hội đồng quản trị.

Nhóm cổ đông gồm Công ty Cổ phần Q, ông Trần Việt D, ông Thân Đình S, ông Hoàng Minh V và bà Lý Bích L (sau đây gọi tắt là nhóm cổ đông yêu cầu), sở hữu 11,88% tổng số cổ phần phổ thông nắm giữ liên tục trên 06 tháng tại Công ty Cổ phần D cho rằng trình tự, thủ tục triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông được thực hiện không đúng quy định. Ông Nguyễn Chính N, là cổ đông của Công ty đã chết, nhưng Công ty Cổ phần D không gửi Thông báo mời họp đến địa chỉ của những người thừa kế của ông Nguyễn Chính N, cũng không chấp nhận tư cách đại diện của ông Lâm Bảo K theo Giấy ủy quyền của ông Nguyễn Chính N, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông; Công ty Cổ phần D không gửi tài liệu kèm theo Thông báo mời họp; việc thông qua phương án phát hành cổ phiếu vi phạm quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ Công ty. Do đó, ngày 20-10-2017, nhóm cổ đông nói trên có đơn yêu cầu Tòa án hủy bỏ toàn bộ Nghị quyết số 73/NQ-ĐHĐCĐ ngày 09-8-2017.

Quá trình giải quyết vụ việc, người đại diện hợp pháp của Công ty Cổ phần D trình bày: Công ty Cổ phần D đã thực hiện đúng quy định về việc thông báo mời họp Đại hội đồng cổ đông. Ông Nguyễn Chính N chết năm 2011, căn cứ điểm đ khoản 3 Điều 140 Bộ luật Dân sự năm 2015, Giấy ủy quyền của ông Nguyễn Chính N ủy quyền cho ông Lâm Bảo K tham gia Đại hội đồng cổ đông không còn hiệu lực và không hợp pháp. Theo danh sách cổ đông thì ông Nguyễn Chính N chỉ có duy nhất một địa chỉ liên hệ là Công ty L, KM15, Quốc lộ 1A, thị trấn C, tỉnh Lạng Sơn và hiện nay địa chỉ này chính là địa chỉ của Công ty Cổ phần Q. Việc gửi thông báo mời họp cho ông Nguyễn Chính N đến địa chỉ Công ty Cổ phần Q là đúng quy định. Tài liệu Đại hội không được gửi kèm Thông báo mời họp, nhưng nội dung Thông báo đã ghi rõ tài liệu được đăng tải lên trang thông tin điện tử của Công ty Cổ phần D. Do đó, việc thông báo mời họp đã được Công ty Cổ phần D thực hiện đúng quy định tại khoản 4 Điều 139 của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và khoản 3 Điều 17 Điều lệ Công ty năm 2013. Ngày 03-8-2017, Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần D bổ sung phương án phát hành thêm cổ phần vào chương trình Đại hội đồng cổ đông. Việc bổ sung này đã được đăng tải trên trang thông tin điện tử của Công ty Cổ phần D. Nghị quyết số 73/NQ-ĐHĐCĐ ngày 09-8-2017 của Công ty Cổ phần D thông qua phương án phát hành cổ phiếu không vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ Công ty Cổ phần D. Do đó, việc ban hành Nghị quyết số 73/NQ-ĐHĐCĐ của Công ty Cổ phần D là đúng trình tự thủ tục, đúng pháp luật.

Tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2018/QĐST-KDTM ngày 16-10-2018, Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 31; điểm c khoản 2 Điều 35; Điều 371; Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 114, 126, 136, 137, 138, 139, 147, 148, 149 và Điều 159 của Luật Doanh nghiệp năm 2014;

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của những người yêu cầu, hủy bỏ Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông bất thường số 73/NQ-ĐHĐCĐ ngày 09 tháng 8 năm 2017 của Công ty Cổ phần D.

Ngoài ra, Quyết định sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định.

Ngày 23-10-2018 Công ty Cổ phần D kháng cáo toàn bộ Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2018/QĐST-KDTM ngày 16-10-2018 của Tòa án nhân dân thành phố L, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét, trường hợp cấp sơ thẩm có vi phạm tố tụng thì hủy Quyết định sơ thẩm; trường hợp không vi phạm tố tụng thì đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu của nhóm cổ đông yêu cầu vì Nghị quyết số 73/NQ-ĐHĐCĐ ngày 09-8-2017 của Công ty Cổ phần D là hợp pháp.

Tại phiên họp phúc thẩm, Công ty Cổ phần D giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Người đại diện theo ủy quyền của những người yêu cầu trình bày: Ông Nguyễn Chính N là cổ đông của Công ty Cổ phần D. Theo quy định tại khoản 3 Điều 126 của Luật Doanh nghiệp năm 2014, khi ông Nguyễn Chính N chết thì vợ, con của ông Nguyễn Chính N là cổ đông của Công ty Cổ phần D. Do đó, Công ty Cổ phần D có trách nhiệm thông báo cho vợ, con của ông Nguyễn Chính N về thủ tục nhận thừa kế cổ phần, và phải được triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông. Giấy ủy quyền của ông Nguyễn Chính N ủy quyền cho ông Lâm Bảo K là ủy quyền thường xuyên, không có thời hạn. Công ty Cổ phần D vẫn chấp nhận việc ủy quyền từ trước đến nay, do đó, việc không chấp nhận ông Lâm Bảo K dự họp với tư cách đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Chính N là không đúng; việc Đại hội thông qua phương án phát hành cổ phiếu mà không ưu tiên quyền mua cổ phiếu mới phát hành của cổ đông hiện hữu là vi phạm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 114 của Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến tại phiên họp như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự, Thư ký phiên họp chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; việc Thông báo thụ lý giải quyết việc dân sự, thời hạn chuẩn bị mở phiên họp, gửi hồ sơ, quyết định mở phiên họp bảo đảm đúng quy định.

Người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về việc kháng cáo: Công ty Cổ phần D kháng cáo Quyết định sơ thẩm trong thời hạn luật định, do đó, kháng cáo là hợp lệ.

Về nội dung: Đại hội đồng cổ đông không chấp nhận ông Lâm Bảo K tham dự Đại hội với tư cách người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Chính N; cũng không thông báo, triệu tập những người thừa kế của ông Nguyễn Chính N dự Đại hội là vi phạm thủ tục triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông; việc thông qua Nghị quyết vi phạm quy định tại Điều 143, 144 của Luật Doanh nghiệp năm 2014 do những người thừa kế của ông Nguyễn Chính N không được tham gia bỏ phiếu, không được thể hiện ý kiến bằng văn bản. Nghị quyết số 73/NQ-ĐHĐCĐ ngày 09-8-2017 thông qua phương án phát hành cổ phiếu, tăng vốn điều lệ theo hình thức chào bán cổ phần riêng lẻ là vi phạm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 114, Điều 122 của Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Công ty Cổ phần D kháng cáo với lý do Tòa án cấp sơ thẩm chưa thực hiện đầy đủ việc thu thập chứng cứ, vi phạm thủ tục tố tụng là không có cơ sở để xem xét.

Đề nghị Hội đồng phiên họp căn cứ điểm a khoản 3 Điều 375 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên Quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2018/QĐST-KDTM ngày 16-10-2018 của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn theo hướng phân tích trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp, Hội đồng phúc thẩm nhận định:

Xét kháng cáo của Công ty Cổ phần D về thủ tục triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông: Ngày 09-8-2017, Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2017 lần 2 của Công ty Cổ phần D được tổ chức theo Thông báo mời họp số 66/TB-DLXNK ngày 21-7-2017. Thông báo mời họp Đại hội đồng cổ đông của Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần D được thực hiện đúng thời gian, đủ nội dung; ngoài Mẫu giấy ủy quyền tham dự Đại hội và Mẫu xác nhận tham dự Đại hội gửi kèm theo Thông báo, Hội đồng quản trị đã thông báo rõ địa chỉ nơi tải tài liệu liên quan đến Đại hội. Việc gửi tài liệu Đại hội trên trang thông tin điện tử là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 139 của Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Về việc triệu tập cổ đông Nguyễn Chính N dự họp Đại hội đồng cổ đông: Theo Thông báo mời họp số 66/TB-DLXNK ngày 21-7-2017, thành phần tham dự Đại hội là “Toàn thể các cổ đông có tên trong danh sách cổ đông chốt ngày 26 tháng 6 năm 2017 hoặc những người được ủy quyền tham dự hợp lệ;…”. Theo Văn bản số Cxxx/2017-DXL/VSD-ĐK ngày 29-6-2017 của Trung tâm Lưu ký chứng khoán, Danh sách tổng hợp người sở hữu chứng khoán của Công ty Cổ phần D tại thời điểm ngày 26-6-2017, cá nhân nước ngoài sở hữu chứng khoán có ông Nguyễn Chính N, địa chỉ liên hệ “Công ty L, KM15, Quốc lộ 1A, thị trấn C, tỉnh Lạng Sơn”. Theo tài liệu Công ty Cổ phần D nộp kèm theo đơn kháng cáo thể hiện ngày 19-9-2018, bà Nguyễn Tiêu M, là con gái của ông Nguyễn Chính N mới thực hiện xong thủ tục nhận thừa kế đối với cổ phần của ông Nguyễn Chính N và trở thành cổ đông của Công ty Cổ phần D. Như vậy, việc triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông của Công ty Cổ phần D tại Thông báo mời họp số 66/TB-DLXNK ngày 21-7-2017 đối với ông Nguyễn Chính N, là người có tên trong danh sách cổ đông chốt ngày 26-6-2017 đã được thực hiện đúng quy định tại khoản 1 Điều 137 của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và khoản 1, 2, 3 Điều 17 Điều lệ Công ty năm 2013.

Về việc ông Lâm Bảo K đăng ký tham dự Đại hội với tư cách đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Chính N: Ông Nguyễn Chính N là cổ đông sở hữu 750.000 cổ phần phổ thông, chiếm 25,36% vốn điều lệ của Công ty Cổ phần D. Ngày 20-11-2009, ông Nguyễn Chính N ủy quyền cho ông Lâm Bảo K đại diện cho ông Nguyễn Chính N "toàn quyền xử lý các công việc liên quan đến cổ phiếu như: mở tài khoản giao dịch, chuyển nhượng cổ phiếu ... và các việc khác"; ngày 21-3-2011, ông Nguyễn Chính N chết. Tại Danh sách cổ đông, người được ủy quyền đăng ký tham dự Đại hội đồng cổ đông ngày 09-8-2017 có ghi tên ông Lâm Bảo K đăng ký tham dự Đại hội với tư cách đại diện, số cổ phần đươc ủy quyền là 750.000. Tại Biên bản kiểm tra giấy ủy quyền vào lúc 9 giờ 15 phút ngày 09-8-2017 của Ban kiểm tra tư cách cổ đông xác định Giấy ủy quyền của ông Nguyễn Chính N ủy quyền cho ông Lâm Bảo K là không hợp lệ vì Giấy ủy quyền là bản photo không có công chứng, chứng thực, không theo Mẫu giấy ủy quyền của Ban tổ chức Đại hội phát hành; và ông Nguyễn Chính N đã chết năm 2011. Ban kiểm tra tư cách cổ đông tham dự Đại hội xác định ông Lâm Bảo K tham dự Đại hội với tư cách đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Chính N là không hợp lệ là phù hợp với quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 140 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 4 Điều 15 Điều lệ Công ty năm 2013.

Như vậy, việc triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông theo Thông báo mời họp số 66/TB-DLXNK ngày 21-7-2017 và việc xác định tư cách cổ đông Nguyễn Chính N, tư cách người đại diện theo ủy quyền của ông Lâm Bảo K đã được Công ty Cổ phần D thực hiện đúng quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Điều lệ Công ty năm 2013. Cấp sơ thẩm xác định Công ty Cổ phần D vi phạm trình tự, thủ tục triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông đối với ông Nguyễn Chính N là không có cơ sở. Do đó, Hội đồng phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần D về nội dung liên quan đến thủ tục triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông.

Về thông báo bổ sung nội dung phát hành cổ phiếu, tăng vốn điều lệ: Nội dung chương trình họp Đại hội đồng cổ đông đã Hội đồng quản trị chuẩn bị và thông báo cho các cổ đông tại Thông báo số 66/TB-DLXNK ngày 21-7-2017. Ngày 03-8-2017, Hội đồng quản trị mới có Tờ trình số 70/T.Tr/DL-XNK trình Đại hội đồng cổ đông về phương án phát hành cổ phiếu, tăng vốn điều lệ. Tại phiên họp phúc thẩm, Công ty Cổ phần D thừa nhận không gửi Thông báo bổ sung chương trình Đại hội cho các cổ đông mà việc bổ sung chương trình Đại hội chỉ được đăng tải trên trang thông tin điện tử của Công ty. Tại Biên bản số 72/BB-ĐHĐCĐ ngày 09-8-2017 và Điều 9 Nghị quyết số 73/NQ-ĐHĐCĐ ngày 09-8-2017 thể hiện kết quả biểu quyết thông qua phương án phát hành cổ phiếu tăng vốn điều lệ đạt 84,47% cổ phần có quyền biểu quyết dự họp tại Đại hội. Cấp sơ thẩm xác định việc Hội đồng quản trị bổ sung chương trình họp vi phạm thời hạn thông báo quy định khoản 3 Điều 17 Điều lệ Công ty năm 2013 là có căn cứ. Do đó, Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần D về nội dung yêu cầu giữ nguyên Nghị quyết số 73/NQ-ĐHĐCĐ ngày 09-8-2017.

Về việc thu thập tài liệu, chứng cứ: Tại đơn kháng cáo ngày 23-10-2018 và tại phiên họp phúc thẩm, Công ty Cổ phần D đề nghị hủy Quyết định sơ thẩm vì cho rằng cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ để xác định người thừa kế cổ phần của ông Nguyễn Chính N và trở thành cổ đông của Công ty Cổ phần D. Xét thấy, kèm theo đơn kháng cáo, Công ty Cổ phần D đã nộp tài liệu, chứng cứ về các nội dung trên, trong đó xác định bà Nguyễn Tiêu M là người thừa kế duy nhất của ông Nguyễn Chính N đối với 750.000 cổ phần tại Công ty Cổ phần D; và ngày 19-9-2018, bà Nguyễn Tiêu M đã trở thành cổ đông của Công ty Cổ phần D theo quy định tại khoản 3, khoản 7 Điều 126 của Luật Doanh nghiệp năm 2014. Như vậy, tài liệu, chứng cứ mà Công ty Cổ phần D cho rằng còn thiếu đã được bổ sung tại cấp phúc thẩm. Do đó, Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần D về việc hủy Quyết định sơ thẩm do vi phạm tố tụng.

Về lệ phí dân sự phúc thẩm: Công ty Cổ phần D kháng cáo Quyết định giải quyết sơ thẩm việc dân sự, được cấp phúc thẩm chấp nhận một phần, do đó, người kháng cáo không phải chịu lệ phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 375; khoản 1 Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 3, khoản 7 Điều 126; khoản 3 Điều 136; Điều 137; khoản 1 Điều 138; Điều 139; Điều 140; khoản 2 Điều 144; khoản 1 Điều 147 của Luật Doanh nghiệp năm 2014;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty Cổ phần D, sửa một phần Quyết định số 01/2018/QĐST-KDTM ngày 16-10-2018 của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, cụ thể:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu của Công ty Cổ phần Q, ông Thân Đình S, ông Trần Việt D, bà Lý Bích L và ông Hoàng Minh V; hủy bỏ Điều 9 của Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông bất thường số 73/NQ-ĐHĐCĐ ngày 09 tháng 8 năm 2017 của Công ty Cổ phần D, nội dung về phương án phát hành cổ phiếu, tăng vốn điều lệ theo Tờ trình số 70/T.Tr/DL-XNK ngày 03-8-2017 của Hội đồng quản trị.

2. Lệ phí phúc thẩm giải quyết việc dân sự: Công ty Cổ phần D không phải nộp lệ phí phúc thẩm. Hoàn trả Công ty Cổ phần D 300.000 (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 02904 ngày 25-10-2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.

3. Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự phần về nghĩa vụ chịu lệ phí sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ