- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Ngọc T - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? TUYÊN BỐ: Cao Ngọc T, phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 99/2023/HSST Ngày: 26 – 7 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm tại điểm cầu trung tâm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ÔNG DƯƠNG NGUYÊN KIM.
Các Hội thẩm nhân dân.
1/ ÔNG NGUYỄN THANH PHƯƠNG.
2/ ÔNG NGUYỄN NGỌC DUY.
Thư ký phiên tòa: BÀ NGUYỄN THỊ THANH NHI – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: BÀ PHẠM THỊ MỸ LỘC – Kiểm sát viên.
Ngày 26/7/2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 87/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:
Cao Ngọc T; sinh năm 1995; tại Bình Thuận.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn X, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: lao động tự do.
Con ông Cao Văn T2 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1960. Gia đình bị cáo có 02 anh em, lớn nhất sinh năm 1992, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình. Vợ Vũ Thị Khả H4, sinh năm 1987, nghề nghiệp: làm nông. Con: Có 01 người con sinh năm 2007. Tất cả cùng trú tại thôn X, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang bị tạm giữ từ ngày 23/3/2023 đến ngày 31/3/2023 chuyển tạm giam cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an huyện H.
Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Những người tham gia tố tụng tại điểm cầu Trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện H:
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông NLQ 1, sinh năm 1992. Địa chỉ: thôn R, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận (Vắng mặt).
2/ Ông NLQ 2, sinh năm 1998. Địa chỉ: thôn R, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận (Vắng mặt).
3/ Ông NLQ 3, sinh năm 1990. Địa chỉ: thôn R, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận (Vắng mặt).
Những người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần:
Thư ký Tòa án nhân dân huyện H; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện H; Cán bộ, chiến sỹ Công an huyện H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào chiều ngày 23/3/2023, Cao Ngọc T đến thị xã R1 để gặp một đối tượng (Tại phiên tòa bị cáo khai tên thường gọi là T5 nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch) và được người này cho 01 (một) gói ma túy. Sau khi có ma túy, T mang về nhà ở thôn X, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận cất giấu để sử dụng. Đến khoảng 19 giờ ngày 23/3/2023, T lấy gói ma túy đổ vào 01 (một) ống hút nhựa rồi dùng ống hút đổ ma túy vào bộ dụng cụ do T chuẩn bị trước để sử dụng. Khoảng 20 giờ cùng ngày, NLQ 1 (sinh năm 1992, trú thôn Hiệp Nhơn, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận) đến nhà T thì thấy T đang sử dụng ma túy trong phòng ngủ nên xin T sử dụng thì T đồng ý. Khoảng 10 phút sau có NLQ 2 (sinh năm 1998) và NLQ 3 (sinh năm 1990) cùng trú thôn R, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận đến nhà của T chơi, tại đây cả hai thấy T và NLQ 1 đang sử dụng ma túy trong phòng ngủ nên vào sử dụng cùng với T và NLQ 1. Khi cả nhóm sử dụng đến khoảng 20 giờ 35 phút cùng ngày thì bị Đồn biên phòng V kiểm tra, bắt quả tang.
Tang vật thu giữ bao gồm: Thu giữ tại vị trí ngồi của các đối tượng: 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, kích thước (2,6x01)cm, bên trong đoạn ống nhựa chứa chất tinh thể màu trắng; 01 (một) bịch nylon màu trắng có díp kéo một đầu, kích thước (07x4,7)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (đã bị vỡ). Thu giữ trong tủ quần áo tại vị trí của các đối tượng: 01 (một) gói nylon có díp kéo một đầu có kích thước (04x4,4)cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng.
Tại kết quả xét nghiệm ngày 24/3/2023 của Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Bình Thuận xác định: Cao Ngọc T, NLQ 2, NLQ 3 và NLQ 1 dương tính với Methamphetamine.
Tại bản kết luận giám định số 356/KL-KTHS ngày 29/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận, kết luận: 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn kín hai đầu, kích thước (2,6x01)cm, bên trong đoạn ống nhựa có chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1). Mẫu M1 có khối lượng là 0,1183 gam là Methamphetamine; 01 (một) bịch nylon có khóa kéo một đầu màu đỏ, kích thước (07x4,7)cm, bên trong bịch nylon có chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M2). Mẫu M2 có khối lượng là 0,9303 gam là Methamphetamine.
01 (một) bịch nylon màu trắng, được hàn kín, có khóa kéo một đầu màu trắng, kích thước (4,4x04)cm, bên trong bịch nylon chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M3). Mẫu M3 có khối lượng mà 3,4742 gam, không có trong danh mục các chất ma túy và tiền chất được ban hành theo Nghị định số 57/2022/NĐ-Cp ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Về xử lý vật chứng: 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (đã bị vỡ); 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, kích thước (2,6x01)cm đã được cắt lấy mẫu; 01 (một) bịch nylon màu trắng có khóa kéo một đầu, kích thước (07x4,7)cm; 01 (một) bịch nylon màu trắng, có khóa kéo một đầu màu đỏ và 0,9096 gam Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 356/1 và 01 (một) gói nylon có khóa kéo một đầu có kích thước (04x4,4)cm được niêm phong trong phong bì số 356/2, cả hai phong bì có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận. Đây là những vật không có giá trị sử dụng và là vật nhà nước cấm lưu hành; đã chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện H quản lý để đảm bảo việc xử lý (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/7/2023).
Đối với NLQ 2, NLQ 3 và NLQ 1, cả ba không có hành vi đồng phạm với Cao Ngọc T. Do đó, việc Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện H không đề cập xử lý đối với NLQ 1, NLQ 2 và NLQ 3 là có căn cứ.
Đối với đối tượng (T khai tên là T5) đã cho Cao Ngọc T ma túy để sử dụng, quá trình điều tra đến nay không xác định được nhân thân, lai lịch. Do đó, việc Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện H không đề cập xử lý trong cùng vụ án này là có căn cứ.
Tại bản cáo trạng số 87/CT-VKSHTN-HS, ngày 21/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Cao Ngọc T về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H giữ quyền công tố, tranh luận và phát biểu quan điểm xử lý vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Cao Ngọc T.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Cao Ngọc T phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự.
Đề nghị xử phạt: Cao Ngọc T từ 07 (Bảy) năm tù đến 07 (bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung là 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Vật chứng vụ án:
Áp dụng: Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (đã bị vỡ); 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, kích thước (2,6x01)cm đã được cắt lấy mẫu; 01 (một) bịch nylon màu trắng có khóa kéo một đầu, kích thước (07x4,7)cm; 01 (một) bịch nylon màu trắng, có khóa kéo một đầu màu đỏ và 0,9096 gam Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 356/1 và 01 (một) gói nylon có khóa kéo một đầu có kích thước (04x4,4)cm được niêm phong trong phong bì số 356/2, cả hai phong bì có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận vì xét thấy đây là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng.
Hiện trạng vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 25/7/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H.
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Cao Ngọc T thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã thể hiện, không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Bình Thuận; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy trình của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện điều hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Cao Ngọc T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào chiều ngày 23/3/2023, Cao Ngọc T đến thị xã K để gặp một đối tượng (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) và được người này cho 01 (một) gói ma túy. Sau khi có ma túy, T mang về nhà T tại thôn X, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận cất giấu để sử dụng. Đến khoảng 19 giờ ngày 23/3/2023, T lấy gói ma túy đổ vào 01 (một) ống hút nhựa rồi dùng ống hút đổ ma túy vào bộ dụng cụ do T chuẩn bị trước để sử dụng. Khoảng 20 giờ cùng ngày, NLQ 1 đến nhà T thấy T đang sử dụng ma túy trong phòng ngủ của T nên xin T sử dụng thì T đồng ý; khoảng 10 phút sau có NLQ 2 và NLQ 3 đến nhà của T chơi, tại đây cả hai thấy T và NLQ 1 đang sử dụng ma túy trong phòng ngủ của T nên NLQ 2 và NLQ 3 cùng sử dụng ma túy với T và NLQ 1. Khi cả nhóm sử dụng đến khoảng 20 giờ 35 phút cùng ngày 23/3/2023 thì bị Đồn biên phòng V kiểm tra, bắt quả tang.
Tang vật thu giữ bao gồm: Thu giữ tại vị trí ngồi của các đối tượng 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, kích thước (2,6x01)cm, bên trong đoạn ống nhựa chứa chất tinh thể màu trắng; 01 (một) bịch nylon màu trắng có díp kéo một đầu, kích thước (07x4,7)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (đã bị vỡ). Thu giữ trong tủ quần áo tại vị trí của các đối tượng sử dụng ma túy (trong phòng ngủ nên xin T): 01 (một) gói nylon có díp kéo một đầu có kích thước (04x4,4)cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng
Tại kết quả xét nghiệm ngày 24/3/2023 của Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Bình Thuận xác định: Cao Ngọc T, NLQ 2, NLQ 3 và NLQ 1 dương tính với Methamphetamine.
Tại bản kết luận giám định số 356/KL-KTHS ngày 29/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận, kết luận: 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn kín hai đầu, kích thước (2,6x01)cm, bên trong đoạn ống nhựa có chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1). Mẫu M1 có khối lượng là 0,1183 gam là Methamphetamine; 01 (một) bịch nylon có khóa kéo một đầu màu đỏ, kích thước (07x4,7)cm, bên trong bịch nylon có chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M2). Mẫu M2 có khối lượng là 0,9303 gam là Methamphetamine; 01 (một) bịch nylon màu trắng, được hàn kín, có khóa kéo một đầu màu trắng, kích thước (4,4x04)cm, bên trong bịch nylon chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M3). Mẫu M3 có khối lượng mà 3,4742 gam, không có trong danh mục các chất ma túy và tiền chất được ban hành theo Nghị định số 57/2022/NĐ-Cp ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo T khai nhận bị cáo là người cất dấu và cung cấp toàn bộ số ma tuý Methamphetamine; đồng thời bị cáo cung cấp bộ dụng cụ sử dụng ma túy, địa điểm là nhà của bị cáo thuộc thôn X, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận để cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy (Bị cáo T cùng với các đối tượng NLQ 2, NLQ 3 và NLQ 1 cùng sử dụng) và bị bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo Cao Ngọc T là cố ý, đã trực tiếp xâm hại đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự ở địa phương, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như nội dung cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người, là một trong những căn nguyên làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội, nhận thức được việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy là việc làm bị pháp luật nghiêm cấm, tuy nhiên bị cáo bất chấp hậu quả pháp lý, vi phạm pháp luật, cần phải trừng trị nghiêm khắc để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội, góp phần lập lại tình hình an ninh trật tự ở địa phương.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thể hiện sự thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án:
01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (đã bị vỡ); 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, kích thước (2,6x01)cm đã được cắt lấy mẫu; 01 (một) bịch nylon màu trắng có khóa kéo một đầu, kích thước (07x4,7)cm; 01 (một) bịch nylon màu trắng, có khóa kéo một đầu màu đỏ và 0,9096 gam Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 356/1 và 01 (một) gói nylon có khóa kéo một đầu có kích thước (04x4,4)cm được niêm phong trong phong bì số 356/2, cả hai phong bì có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận. Xét thấy đây là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Hiện trạng vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 25/7/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H.
Đối với NLQ 2, NLQ 3 và NLQ 1, cả ba không có hành vi đồng phạm với Cao Ngọc T. Do đó, việc Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện H không đề cập xử lý đối với NLQ 3, NLQ 2 và NLQ 1 là có căn cứ. Đối với đối tượng (T khai tên là T5) đã cho Cao Ngọc T ma túy để sử dụng, quá trình điều tra đến nay không xác định được nhân thân, lai lịch. Do đó, việc Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện H không đề cập xử lý trong cùng vụ án này là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
TUYÊN BỐ: Cao Ngọc T, phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự.
XỬ PHẠT: Cao Ngọc T 07 (Bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung là 08 (Tám) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (Ngày 23/3/2023).
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ: Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (đã bị vỡ); 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, kích thước (2,6x01)cm đã được cắt lấy mẫu; 01 (một) bịch nylon màu trắng có khóa kéo một đầu, kích thước (07x4,7)cm; 01 (một) bịch nylon màu trắng, có khóa kéo một đầu màu đỏ và 0,9096 gam Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 356/1 và 01 (một) gói nylon có khóa kéo một đầu có kích thước (04x4,4)cm được niêm phong trong phong bì số 356/2, cả hai phong bì có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận.
Hiện trạng vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 25/7/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H.
Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Cao Ngọc T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm trực tuyến, có mặt bị cáo tại điểm cầu tành phần báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 26/7/2023). Những người có quyền kháng cáo vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKSND huyện H; - Chi cục THADS huyện H; - Công an huyện H; - Bị cáo, những người tham gia tố tụng; - Chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Nguyên Kim |