vanban.org

Bản án 99/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 12/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Dương Thị Mỹ T, Dương Thị Mỹ Q, Hồ Nguỵ Quỳnh N, Vũ Tiến T1 và Nguyễn Thanh L phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”

1 Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 Xử phạt bị cáo Dương Thị Mỹ T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Dương Thị Mỹ T - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Dương Thị Mỹ T, Dương Thị Mỹ Q, Hồ Nguỵ Quỳnh N, Vũ Tiến T1 và Nguyễn Thanh L phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2023/HS-ST
Ngày 12 - 4 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn

2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Sơn, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2023 tại Hội trường A Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2023/HSST ngày 16 tháng 1 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2023/QĐXXST-HS ngày 20/3/2023 đối với các bị cáo:

1. Dương Thị Mỹ T, sinh năm 1996, tại tỉnh Bình Định; thường trú: Xóm 22 thôn Q2, xã S, huyện P, tỉnh Bình Định; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Kinh doanh; con ông Dương Thanh T, sinh năm 1964 và con bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1966; bị cáo có 05 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 2009; chồng: Huỳnh Minh Q, sinh năm 1992; bị cáo có 01 con, sinh năm 2017 ; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam ngày 29/9/2022, có mặt

2. Dương Thị Mỹ Q, sinh năm 1991, tại tỉnh Bình Định; thường trú: Xóm 1 thôn S, xã S, huyện P, tỉnh Bình Định; tạm trú: khu phố 1, phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Kinh doanh; con ông Dương Thanh T, sinh năm 1964 và con bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1966; bị cáo có 05 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân:

+ Ngày 01/11/2015, bị Công an phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai xử phạt 1.5000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, theo quyết định số 0000704, đóng phạt ngày 03/02/2016

+ Ngày 10/12/2016, Công an phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, theo quyết định số 0000132, đóng phạt ngày 27/12/2016.

Bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam ngày 29/9/2022, có mặt.

3. Hồ Ngụy Quỳnh N, sinh năm 1996 tại tỉnh Bình Định; thường trú: Thôn K, xã B, thành phố T, tỉnh Kon Tum; chỗ ở: Đường T, phường T, thành phố K, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Phụ quán; con ông Hồ Ngụy Hồng P, sinh năm 1971 và con bà Đặng Thị T, sinh năm 1975; bị cáo có 02 con ruột (sinh năm 2013 và năm 2015); tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam ngày 29/9/2022, có mặt.

4. Vũ Tiến T1, sinh năm 2001 tại Thành phố Hà Nội; thường trú: Thôn L, xã D, huyện X, Thành phố Hà Nội; tạm trú: Khu phố H, phường H, thành phố K, tỉnh Bình Dương; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Vũ Văn T, sinh năm 1978 và con bà Nguyễn Thị C sinh năm 1980; bị cáo có 03 chị em ruột, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam ngày 29/9/2022, có mặt.

5. Nguyễn Thanh L, sinh ngày 08/10/2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: Ấp K, xã N, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; tạm trú: Đường P, tổ 25 khu phố 6, thị trấn B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Thanh H (đã chết) và con bà Nguyễn Thị C; bị cáo có 02 chị em ruột, bị cáo là thứ 2; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam ngày 29/9/2022, có mặt.

Người làm chứng: 1. Nguyễn Hữu Đ; 2. Bùi Quang V; 3. Đặng Thị Thanh H, tất cả vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Thị Mỹ T, Dương Thị Mỹ Q (chị em ruột), Hồ Ngụy Quỳnh N, Nguyễn Thanh L, Vũ Tiến T1, Nguyễn Hữu Đ, Bùi Quang V, Đặng Thị Thanh H là bạn.

Ngày 28/9/2022 T, Q, N, L, T1 cùng ăn uống (nhậu) ở Bar Kusho, trên đường về cả nhóm bàn mua ma túy về phòng của T, N tại căn hộ chung cư S sử dụng, T1 là người bỏ tiền mua ma tuý trước, sau đó mọi người góp tiền trả sau. Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 29/9/2022, T1 thuê 01 loa di động màu xanh hiệu Hasman Lendam của người không rõ nhân thân và điện thoại cho Long (không rõ nhân thân) qua mạng Facebook với tài khoản Longphilip mua 2.300.000 đồng ma tuý gồm 02 viên nén màu xanh, 01 gói bột tinh thể màu trắng. Cũng trong thời gian này Q điện thoại rủ Đ đến chơi (sử dụng ma túy). Sau khi nhận ma túy, T1 mang ma túy lên căn hộ lấy ma túy tinh thể màu trắng đổ vào đĩa sứ rồi dùng thẻ ngân hàng để cà ma tuý (chia ma túy ra thành nhiều đường kẻ nhỏ); 02 viên thuốc màu xanh được T1 bỏ vào trong đĩa sứ sau đó lấy tờ tiền 10.000 đồng quấn thành ống hút để sử dụng. Tiếp theo T1, T, N, Q, L và Đ ngồi trên giường trong phòng ngủ căn hộ bật nhạc, đèn chớp cùng sử dụng ma túy. Hình thức sử dụng một tay cầm đĩa có chứa ma túy, một tay dùng ống hút để hít 01 phần ma túy dạng bột vào cơ thể; mỗi người lấy viên thuốc lắc màu xanh cắn 01 miếng nuốt vào cơ thể, rồi bỏ lại viên thuốc lắc vào đĩa để người khác tiếp tục sử dụng.

Thời điểm này có H, V từ Bình Định vào căn hộ Chung cư S để ở thấy mọi người đang sử dụng ma túy nên H, V đến cùng sử dụng chung ma túy.

Vào lúc 04 giờ 30 phút cùng ngày, Công an phường Bình Thắng phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố Dĩ An tiến hành kiểm tra hành chính căn hộ Chung cư S phát hiện bắt quả tang bên trong căn hộ có Dương Thị Mỹ T, Dương Thị Mỹ Q, Hồ Ngụy Quỳnh N, Nguyễn Thanh L, Vũ Tiến T1, Nguyễn Hữu Đ, Bùi Quang V, và Đặng Thị Thanh H đang sử dụng ma túy.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 đĩa sứ màu trắng trong có chất bột màu trắng; 01 thẻ ngân hàng màu đen; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn bọc hai đầu lọc thuốc lá hiệu Sài Gòn thành hình dạng ống hút bị rách; 01 loa di động màu xanh hiệu Hasman Lendam; 02 đèn chớp sáng; 01 mẫu viên nén màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu hồng 64G của Dương Thị Mỹ Q; 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 13 Promax màu xanh dương của Vũ Tiến T1.

Tại Kết luận giám định số 457/KL-KTHS ngày 06/10/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận như sau:

+ Mẫu viên nén màu xanh thu giữ, khối lượng/trọng lượng: 0,1342 gam (M2) là ma túy loại MDMA.

+ Mẫu chất màu trắng trong 01 gói nylon miệng kéo dính thu giữ, khối lượng/trọng lượng 0,4876 gam là ma túy loại Ketamine.

Đối với Đặng Thị Thanh H không góp tiền mua ma tuý sử dụng và cũng không biết việc T, N sử dụng căn hộ để tổ chức sử dụng ma tuý, H không rủ V sử dụng ma tuý. Đối với Nguyễn Hữu Đ, Bùi Quang V không góp tiền mua ma túy sử dụng. Đ, V khi đến căn hộ thấy có ma tuý lấy sử dụng và để xuống. Hành vi của Đ, V và H không đủ căn cứ xác định vai trò đồng phạm trong vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 238, 239, 240 ngày 06/11/2022 đối với Đ, H, V.

Cáo trạng số 50/CT – VKS ngày 14 tháng 1 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Dương Thị Mỹ T, Dương Thị Mỹ Q, Hồ Nguỵ Quỳnh N, Nguyễn Thanh L, Vũ Tiến T1 về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định điểm i khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét căn cứ

1. Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Dương Thị Mỹ T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật sự hình năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Dương Thị Mỹ T từ 07 năm 06 tháng đến 8 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Dương Thị Mỹ T phải chấp hành hình phạt chung từ 08 năm 09 tháng đến 9 năm 06 tháng tù.

2. Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Dương Thị Mỹ Q từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật sự hình năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Dương Thị Mỹ Q từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Dương Thị Mỹ Q phải chấp hành hình phạt chung từ 09 năm 03 tháng đến 10 năm tù.

3. Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Hồ Nguỵ Quỳnh N từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật sự hình năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Hồ Nguỵ Quỳnh N từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Hồ Nguỵ Quỳnh N phải chấp hành hình phạt chung từ 08 năm 09 tháng đến 09 năm 06 tháng tù.

4. Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật sự hình năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Thanh L phải chấp hành hình phạt chung từ 08 năm 09 tháng đến 09 năm 06 tháng tù.

5. Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Vũ Tiến T1 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật sự hình năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Vũ Tiến T1 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Vũ Tiến T1 phải chấp hành hình phạt chung từ 08 năm 09 tháng đến 09 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách nhà nước điện thoại di động của bị cáo Q, T1; 10.000 đồng. Tịch thu tiêu huỷ ma tuý thu giữ, đĩa sứ, thẻ ngân hàng, bọc đầu lọc thuốc lá hiệu Sài Gòn hình dạng ống hút bị rách; 01 loa di động màu xanh hiệu Hasman Lendam; 02 đèn chớp sáng.

Bị cáo T, Q, N, T1, L không tranh luận, bào chữa cho hành vi phạm tội. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo nói lời sau cùng: Biết việc mình làm là vi phạm pháp luật, xin được giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Chứng cứ xác định có tội của các bị cáo: Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 29/9/2022, Dương Thị Mỹ T, Dương Thị Mỹ Q, Hồ Ngụy Quỳnh N, Nguyễn Thanh L và Vũ Tiến T1 góp tiền mua ma tuý sử dụng, sau đó cả nhóm còn cho Nguyễn Hữu Đ, Đặng Thị Thanh H, Bùi Quang V cùng sử dụng chung ma tuý, khi kiểm tra thu giữ ma tuý của T, Q, N, L, T1 mua nhưng chưa sử dụng có khối lượng 0,1342 gam loại MDMA, 0,4876 gam loại Ketamine. Như vậy, hành vi trên của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, quy định điểm i khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bản cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 14/01/2023 của Viện kiểm sát thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo cũng như trình bày luận tội của Kiểm sát viên đối với các bị cáo là có căn cứ pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T, Q, N, T1 và L không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thể hiện thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Tình tiết trên được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Về nhân thân: Bị cáo T, N, T1 và L có nhân thân tốt thể hiện các bị cáo không có tiền án, tiền sự. Đối với bị cáo Q có nhân thân xấu, thể hiện 02 lần bị xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”, lần phạm tội này đã thể hiện sự không hướng thiện của bản thân cũng như việc chấp hành pháp luật.

[6] Về tính chất mức độ tội phạm: Bị cáo T, Q, N, T1, L phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 15 năm tù, các bị cáo phạm cùng lúc 02 tội. Tất cả các bị cáo thực hiện tội phạm một cách cố ý. Hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Hiện nay hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy; sử dụng trái phép chất ma túy, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý…” diễn ra nhiều, phức tạp. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

[7] Đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” có tính chất đồng phạm, tuy nhiên chỉ là đồng phạm giản đơn, các bị cáo trong vụ án tham gia với vai trò người thực hành.

[8] Đối với Đặng Thị Thanh H, Nguyễn Hữu Đ, Bùi Quang V sử dụng ma tuý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng tiền là phù hợp

[9] Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ ma túy còn lại sau giám định, đĩa sứ, thẻ ngân hàng màu đen; bọc hai đầu lọc thuốc lá hiệu Sài Gòn thành hình dạng ống hút bị rách; loa nghe nhạc, đèn chớp không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với 02 điện thoại di động, 10.000 đồng cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

[10] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, việc xử lý vật chứng và mức hình phạt đối với các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận. Riêng mức hình phạt đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” có phần nghiêm khắc. Hội đồng xét xử xử mức hình phạt các bị cáo thấp hơn mức hỉnh phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

[11] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố:

+ Bị cáo Dương Thị Mỹ T, Dương Thị Mỹ Q, Hồ Nguỵ Quỳnh N, Vũ Tiến T1 và Nguyễn Thanh L phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”

1.1 Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Dương Thị Mỹ T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Dương Thị Mỹ T 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Buộc bị cáo Dương Thị Mỹ T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù.

1.2 Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Dương Thị Mỹ Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Dương Thị Mỹ Q 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Buộc bị cáo Dương Thị Mỹ Q phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 09 (chín) năm tù.

1.3 Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Hồ Nguỵ Quỳnh N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Hồ Nguỵ Quỳnh N 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Buộc bị cáo Hồ Nguỵ Quỳnh N phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù.

1.4 Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Vũ Tiến T1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Vũ Tiến T1 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Buộc bị cáo Vũ Tiến T1 phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù.

1.5 Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Buộc bị cáo Nguyễn Thanh L phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo Dương Thị Mỹ T, Dương Thị Mỹ Q, Hồ Nguỵ Quỳnh N, Vũ Tiến T1 và Nguyễn Thanh L tính từ ngày bị tạm giữ, bắt tạm giam ngày 29/9/2022.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 89, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 02 bì thư đã được phòng kỹ thuật hình sự niêm phong có ghi ký hiệu 457/PC09 bên trong có 01 phần viên nén màu xanh có khối lượng 0,0538 gam (M1) ma tuý loại MDMA; chất bột màu trắng có khối lượng 0,2907 gam (M2) ma tuý loại Ketamine; 01 đĩa sứ màu trắng; 01 thẻ ngân hàng màu đen; 01 loa di động màu xanh hiệu Harman Kadon; 02 đèn chớp sáng; bọc hai đầu lọc thuốc lá hiệu Sài Gòn hình dáng ống hút bị rách.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 10.000 đồng (mười nghìn đồng); 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu hồng 64G; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh dương

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/02/2023 tại Chi cục thi hành án thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Các bị cáo Dương Thị Mỹ T, Dương Thị Mỹ Q, Hồ Nguỵ Quỳnh N, Vũ Tiến T1 và Nguyễn Thanh L mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ