vanban.org

Bản án 99/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Tuyên án 02/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Mai Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Xử phạt bị cáo Mai Văn T 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Mai Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY , TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 99/2021/HS-ST

Ngày: 02/11/2021

HUYỆN THÁI THỤY Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY , TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có : Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thái Hà. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Sang và bà Nguyễn Thị Thơ. - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Kiểm sát viên. Ngày 02 tháng 11 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2021/TLST- HS ngày 14 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2021, đối với: Bị cáo Mai Văn T, sinh ngày 31/8/1991 tại Thái Bình. Nơi cư trú: Thôn C , xã H, huyện T1, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 8/12; con ông Mai Công T2, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị N (đã chết. Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 06/9/2013 tham gia nghĩa vụ quân sự, thuộc Lữ đoàn 242 Quân khu 3, ngày 29/01/2015 hoàn thành nghĩa vụ trở về địa phương lao động tự do. Tại bản án số 43/2016/HSST ngày 24/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt T 02 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đến ngày 27/4/2018 chấp hành xong hình phạt tù, đã chấp hành xong án phí và tiền tịch thu sung công của bản án sơ thẩm ngày 25/8/2016. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/7/2021 đến ngày 23/7/2021 chuyển tạm giam đến nay. Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến: + Ông Phạm Phú T3, sinh năm 1957, (vắng mặt). + Ông Phạm Phú D, sinh năm 1974, (vắng mặt). Đều cư trú tại: Thôn T4, xã V, huyện T1, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do nghiện ma túy nên khoảng 11 giờ 30 phút ngày 20/7/2021, Mai Văn T đi bộ từ nhà ở thôn C, xã H, huyện T1, tỉnh Thái Bình đến khu vực cầu thuộc thôn thôn C, xã H, huyện T1, tỉnh Thái Bình gặp và mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ 02 gói ma túy loại Heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cất gói ma túy vào túi bên trái, phía trước quần đang mặc rồi đi bộ đến nhà bà ngoại T ở thôn C, xã V, huyện T1, tỉnh Thái Bình. Khoảng 12 giờ cùng ngày T đang đi bộ trên đường thôn C, xã V thì bị công an xã V tuần tra phát hiện. Tại đây trước sự chứng kiến của ông Phạm Phú T3 và ông Phạm Phú D, Công an kiểm tra người T phát hiện và thu giữ tại túi quần bên trái phía trước T đang mặc 02 gói được gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng, bên trong cả hai gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục (niêm phong vật chứng mẫu số A1). Công an đưa T và mời người chứng kiến về trụ sở Ủy ban nhân dân xã V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T1 tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Mai Văn T nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Tại Bản kết luận giám định số 282/KLGĐMT-PC09 ngày 21/7/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Vật chứng trong phong bì niêm phong mẫu A1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,2662 gam”. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận giám định nêu trên. Bản cáo trạng số 96/CT-VKSTT ngày 12/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố bị cáo Mai Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trong bản Cáo trạng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy vẫn giữ nguyên quyết định

truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Mai Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo không tranh luận gì đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thái Thụy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Mai Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an xã V và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Thụy lập (bút lục số 54 - 56); Biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến là ông Phạm Phú T3 và ông Phạm Phú D 9 (bút lục số 71-78); Bản kết luận giám định số 282/KLGĐMT -PC09 ngày 21/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình (bút lục số 56). Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với các chứng cứ nêu trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 20/7/2021 tại trục đường thôn C, xã V, huyện T1, tỉnh Thái Bình, Mai Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,2662 gam ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an xã V, huyện T1, tỉnh Thái Bình bắt quả tang. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Mai Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như

Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Điều 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy - Bộ luật Hình sự quy định: "1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR- 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam." [3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo Mai Văn T là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn xâm phạm đến an ninh, trật tự công cộng và an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã một lần bị xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. [4] Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo từng có thời gian tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. [5] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo nói riêng cũng như răn đe, đấu tranh và phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật và chính sách khoan hồng của Nhà nước ta, tạo điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo sớm trở thành người có ích cho xã hội. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, trước khi bị bắt làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định và không có tài sản riêng. [6] Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Mai Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". 2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Mai Văn T 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 20/7/2021. 3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 0,2269 gam Heroine thu giữ của bị cáo Mai Văn T hoàn trả sau giám định và toàn bộ bao gói Mẫu số A1 trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 282/KLGĐ-PC09. (Vật chứng trên đã chuyển Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình theo Biên bản về việc giao nhận vật chứngngày 13/10/2021). 4. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Mai Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. 5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Mai Văn T có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 02/11/2021./

Cỡ chữ