- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trần Quang H và Trần Nhật Đ phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98/2026/HS-ST Ngày 10-02-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Kim Thoa
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Chánh
Bà Thiều Thị Phi Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 10/02/2026, tại Hội trường số 4, trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2026/TLST-HS ngày 13/01/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2026/QĐXXST-HS ngày 26/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai, đối với các bị cáo:
1. TRẦN QUANG H, sinh ngày 24/12/1988 tại Đồng Nai; nơi cư trú: Tổ M, khu phố M, phường D, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường D, tỉnh Đồng Nai); nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn Q, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1965; có vợ Nguyễn Thị Anh Tr, sinh năm 1995 (đã ly hôn) và có 02 con sinh năm 2018 và năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
2. TRẦN NHẬT Đ, sinh ngày 02/11/1988 tại Đồng Nai; nơi cư trú: Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là khu phố A, phường TH, tỉnh Đồng Nai); nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần Hậu Nh, sinh năm 1953 (đã chết) và bà Đoàn Thị Th, sinh năm 1959; có vợ Nguyễn Thùy L, sinh năm 1992 (đã ly hôn) và có 02 con sinh năm 2018 và năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: 1) Anh Võ Thành D, sinh năm 1997; 2) Chị Đào Thị Thu Tr, sinh năm 1993; 3) Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1994; 4) Anh Nguyễn Quang H1, sinh năm 1996; 5) Chị Lại Khánh V, sinh năm 2003 (vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Quang H và Trần Nhật Đ góp vốn thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Thể thao và Giải trí T1 và được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 360389xxx ngày 22/11/2022, hoạt động thể dục Poker, Gym, Yoga……(chỉ hoạt động khi có đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật).
Ngày 03/01/2023, Trần Nhật Đ làm các thủ tục thành lập Câu lạc bộ thể thao cấp cơ sở Bridge và Poker Space X và làm Đơn xin công nhận câu lạc bộ thể thao cấp cơ sở gửi Phòng Văn hóa thành phố B, tuy nhiên chưa được chấp thuận.
Từ đầu tháng 02/2023, Trần Quang H và Trần Nhật Đ sử dụng địa điểm là Chung cư T2, thuộc khu phố N, phường TN, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (là căn hộ tầng trệt của chung cư T2, nay thuộc phường T, tỉnh Đồng Nai) để tiến hành tổ chức các giải thi đấu Poker trao giải thưởng nhưng Câu lạc bộ này không được cấp phép để tổ chức hoạt động thi đấu này.
Mặc dù đây là việc làm trái pháp luật không được cơ quan chức năng cho phép, nhưng Đ và H vẫn tự ý tiến hành đăng thông tin công khai trên tài khoản Facebook “S X P” và tự ý ban hành quy chế hoạt động và niêm yết công khai tại địa điểm trên nhằm mục đích thu hút người đến đăng ký tham gia góp tiền. Những người đến đăng ký thi đấu tự do ra vào cửa Căn hộ đến quầy thu ngân để đăng ký không hạn chế số lượng và số lượt. H và Đ trưng bày Giấy phép kinh doanh của Công ty TNHH Thể thao và Giải trí TDH tại khu vực thu ngân và cam kết việc hoạt động của Câu lạc bộ và tổ chức giải thi đấu Poker là hợp pháp nhằm che giấu hành vi trái pháp luật. Người đăng ký thi đấu sẽ phải đóng tiền tham gia giải và quá trình thi đấu diễn ra hai vòng gồm: Vòng thi đấu tính điểm diễn ra cho đến khi hết thời gian quy định đăng ký (tại vòng này nếu người nào thua hết điểm thì vẫn được đăng ký lại (đóng tiền lại) và được cấp số điểm phỉnh do Đ và H tự ý đặt ra); Vòng thi đấu loại trực tiếp sẽ chọn ra 05 người có điểm cao nhất để xếp hạng và trao thưởng. Tại vòng này căn cứ vào tổng số lần đăng ký để xác định tổng số tiền người đăng ký nộp tiền tham gia chơi, H và Đ sẽ xác định số tiền để phát thưởng là 90% tổng số tiền thu của những người đăng ký tham gia, còn lại 10% tổng số tiền thì H và Đ giữ lại sử dụng riêng.
Vào khoảng 12 giờ ngày 28/02/2023, H và Đ đã tiến hành tổ chức giải thi đấu “Tour Tuesday Space X 1100 28/2/2023”. H và Đ thuê Trần Đình Ngọc S (chưa rõ nhân thân, lai lịch) làm quản lý và thuê Lại Khánh V (sinh năm 2003, cư trú tại số Khu phố B, phường TH, tỉnh Đồng Nai), Trương Thùy D (sinh năm 2002, cư trú tại ấp B1, xã A, tỉnh Đồng Nai) làm nhiệm vụ chia bài. Quá trình tổ chức đánh bạc, có 18 người tham gia đăng ký, mỗi lượt đăng ký đóng số tiền 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng), tổng số lượt đăng ký là 31 lượt, với tổng số tiền đăng ký là 34.100.000đ (Ba mươi bốn triệu một trăm nghìn đồng). H và Đ quy định: Sử dụng số tiền trên để chia ra 05 giải thưởng gồm: Giải nhất 12.720.000đ (Mười hai triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng); Giải nhì 7.950.000đ (Bảy triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng); Giải ba 4.960.000đ (Bốn triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng); Giải tư 3.210.000đ (Ba triệu hai trăm mười nghìn đồng); Giải năm 2.160.000đ (Hai triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng), số tiền còn lại H và Đ giữ lại. Khi kết thúc vòng tính điểm, giải thưởng sẽ được công bố cho những người tham gia chơi biết. Số người đăng ký tham gia thi đấu cụ thể như sau:
+ Đào Thị Thu Tr (sinh năm 1993, cư trú tại chung cư T2, khu phố N, phường TN, tỉnh Đồng Nai - nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) tham gia đăng ký 04 lượt chơi với tổng số tiền 4.400.000đ (Bốn triệu bốn trăm nghìn đồng);
+ Nguyễn Quang H1 (sinh năm 1996, cư trú tại khu phố 5, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai - nay là phường TH, tỉnh Đồng Nai) tham gia đăng ký 03 lượt chơi với tổng số tiền 3.300.000đ (Ba triệu ba trăm nghìn đồng);
+ Trần Nguyễn Anh K (sinh năm 1993, cư trú tại khu phố 4, phường QT, thành phố B, tỉnh Đồng Nai - nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) tham gia đăng ký 02 lượt chơi với tổng số tiền 2.200.000đ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng);
+ Nguyễn Tuấn A (sinh năm 1992, cư trú tại xóm Ng, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh - nay là xã H, tỉnh Hà Tĩnh) tham gia đăng ký 02 lượt chơi với tổng số tiền 2.200.000đ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng);
+ Nguyễn Tuấn A1 (sinh năm 1994, cư trú tại khu phố 12, phường AB, thành phố B, tỉnh Đồng Nai - nay là phường Tr, tỉnh Đồng Nai) tham gia đăng ký 01 lượt chơi với số tiền 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng);
+ Nguyễn Văn Đ (sinh năm 1990, cư trú tại khu phố 2, phường TB, thành phố B, tỉnh Đồng Nai - nay là phường L, tỉnh Đồng Nai) tham gia đăng ký 01 lượt chơi với số tiền 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng);
+ Phạm D1 (sinh năm 1991, cư trú tại K1, khu phố 2, phường BĐ, thành phố B, tỉnh Đồng Nai - nay là phường TH, tỉnh Đồng Nai) tham gia đăng ký 01 lượt chơi với số tiền 1.100.000 (Một triệu một trăm nghìn đồng);
+ Võ Thành D (sinh năm 1997, cư trú tại khu phố 1, phường BL, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) tham gia đăng ký 01 lượt chơi với số tiền 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng);
+ Lê Hoàn B (sinh năm 1993, cư trú tại khu phố 1, phường BL, thành phố B, tỉnh Đồng Nai - nay là phường Tr, tỉnh Đồng Nai) tham gia đăng ký 01 lượt chơi với số tiền 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng);
+ Lê Bá Khánh T (sinh năm 1995, cư trú tại khu phố 7, phường TP, thành phố B, tỉnh Đồng Nai - nay là phường Tr, tỉnh Đồng Nai) tham gia đăng ký 01 lượt chơi với số tiền 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng);
+ Triệu Vĩnh Kh (chưa rõ lai lịch) tham gia đăng ký 03 lượt chơi với tổng số tiền 3.300.000đ (Ba triệu ba trăm nghìn đồng);
+ Võ Quốc V (chưa rõ lai lịch) tham gia đăng ký 02 lượt chơi với tổng số tiền 2.200.000đ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng);
+ Nguyễn Gia H2 (chưa rõ lai lịch) tham gia đăng ký 02 lượt chơi với tổng số tiền 2.200.000đ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng);
+ Hoàng H3 (chưa rõ lai lịch) tham gia đăng ký 02 lượt chơi với tổng số tiền 2.200.000đ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng);
+ Nguyễn Duy Th (chưa rõ lai lịch) tham gia đăng ký 02 lượt chơi với tổng số tiền 2.200.000đ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng);
+ Chạc Lương K2 (chưa rõ lai lịch) tham gia đăng ký 01 lượt chơi với số tiền 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng);
+ Nguyễn Hoàng Gia Ch (chưa rõ lai lịch) tham gia đăng ký 01 lượt chơi với số tiền 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng);
+ Phạm Minh L3 (chưa rõ lai lịch) tham gia đăng ký 01 lượt chơi với số tiền 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng);
Trong quá trình chơi, Kh, V, Gia H2, H3, Th, K2, C, L3 đã bị loại nên bỏ về trước. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, khi Tr, Quang H1, K, Tuấn A (1992), Tuấn A1 (1994), Đ, D1, D, B, T đang tiếp tục chơi nhưng chưa có kết quả của giải đấu thì bị Ủy ban nhân dân phường TN phối hợp với Công an phường TN (nay là phường Tr) kiểm tra phát hiện.
Quá trình điều tra, Trần Quang H và Trần Nhật Đ khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng vụ án: Không.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại Cáo trạng số 182/CT-VKSKV1 ngày 13/01/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai truy tố các bị cáo Trần Quang H và Trần Nhật Đ phạm tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai giữ nguyên cáo trạng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt:
- Bị cáo Trần Quang H số tiền từ 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng) đến 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng).
- Bị cáo Trần Nhật Đ số tiền từ 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng) đến 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng).
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất các vấn đề khác liên quan đến vụ án và buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Các bị cáo không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát và đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung tại Cáo trạng đã nêu, các bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo được chăm sóc cha mẹ và các con còn nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Vào khoảng 12 giờ ngày 28/02/2023, tại Chung cư T2, thuộc khu phố N, phường TN, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay thuộc phường Tr, tỉnh Đồng Nai), Trần Quang H và Trần Nhật Đ có hành vi lợi dụng danh nghĩa Câu lạc bộ thể thao cấp cơ sở Bridge và Poker Space X không được cơ quan chức năng cho phép thành lập và hoạt động để tổ chức đánh bạc thắng thua bằng tiền thông qua hình thức tổ chức thi đấu giải Poker Tournament có thu tiền và phát thưởng nhằm mục đích thu lợi trái pháp luật. H và Đ đã tổ chức cho Nguyễn Gia H1, Chạc Lương K, Đào Thị Thu Tr, Hoàng H3, Lê Bá Khánh T, Lê Hoàn B, Nguyễn Duy Th, Nguyễn Hoàng Giang Ch, Nguyễn Quang H1, Nguyễn Tuấn A (SN 1992), Nguyễn Tuấn A1 (SN 1994), Nguyễn Văn Đ, Phạm D, Phạm Minh L3, Trần Nguyễn Anh K, Triệu Vĩnh Kh, Võ Quốc V, Võ Thành D tham gia đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi Poker với tổng số tiền là 34.100.000đ (Ba mươi bốn triệu một trăm nghìn đồng).
Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Trần Quang H và Trần Nhật Đ phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ vụ án trong vụ án thấy rằng, cờ bạc là tệ nạn xã hội, Nhà nước cấm đánh bạc trái phép dưới mọi hình thức được thua bằng tiền hay hiện vật nhưng vì sự thiếu hiểu biết pháp luật các bị cáo Trần Quang H và Trần Nhật Đ tổ chức giải thi đấu Poker khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, cùng nhau thực hiện tội phạm tổ chức đánh bạc với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm tương ứng về hành vi, vai trò thực hiện.
Trong vụ án này, Trần Quang H và Trần Nhật Đ là những người giữ vai trò chính, trực tiếp góp vốn thành lập Công ty TNHH Thể thao và Giải trí TDH, thành lập Câu lạc bộ thể thao cấp cơ sở Bridge và Poker Space X, tự ý sử dụng căn hộ chung cư T2 để tổ chức giải đấu Poker khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp phép; đồng thời đăng tải thông tin quảng bá trên mạng xã hội, ban hành quy chế hoạt động, trưng bày giấy phép kinh doanh để tạo lòng tin, thu tiền người tham gia, tổ chức thi đấu nhiều vòng, quyết định cơ cấu giải thưởng và giữ lại 10% tổng số tiền thu được để sử dụng riêng, trong đó tiêu biểu là giải “Tour Tuesday Space X 1100” ngày 28/02/2023 với 18 người tham gia, 31 lượt đăng ký, tổng số tiền 34.100.000 đồng, nên phải chịu trách nhiệm chính về hành vi tổ chức đánh bạc.
Về tình tiết định khung hình phạt:
Hành vi của các bị cáo Trần Quang H và Trần Nhật Đ đã phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc”, không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đã xem xét các bị cáo Trần Quang H và Trần Nhật Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo Trần Quang H và Trần Nhật Đ đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo Trần Quang H và Trần Nhật Đ thuộc trường hợp nghiêm trọng nên việc áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo sẽ đảm bảo việc xử lý nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo H, Đ phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, sau khi phát hiện vụ án các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, trả lại toàn bộ số tiền đăng ký tham gia giải đấu cho người tham gia và ngừng hoạt động từ đó cho đến nay.
Xét thấy các bị cáo có công việc ổn định, có khả năng thi hành hình phạt tiền, nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội. Việc áp dụng hình phạt chính là phạt tiền trên mức khởi điểm của khung hình phạt đối với các bị cáo vẫn đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm và đồng thời đảm bảo tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
Về vật chứng vụ án: Không có.
Về các vấn đề khác:
Đối với Đào Thị Thu Tr, Lê Bá Khánh T, Lê Hoàn B, Nguyễn Quang H1, Nguyễn Tuấn A (SN 1992), Nguyễn Tuấn A1 (SN 1994), Nguyễn Văn Đ, Phạm D, Trần Nguyễn Anh K, Võ Thành D nhầm tưởng H và Đ được cấp phép tổ chức trò chơi có thưởng nên tham gia góp tiền đánh bạc. Mặt khác những người này chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc; số tiền đăng ký tham gia chơi dưới mức định lượng là 5.000.000 đồng nên không xử lý về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Đối với Nguyễn Gia H1, Chạc Lương K, Nguyễn Hoàng Giang Ch, Hoàng H3, Nguyễn Duy Th, Phạm Minh L3, Triệu Vĩnh Kh, Võ Quốc V đều chưa rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với Trần Đình Ngọc S: Sau khi xảy ra vụ án đã chết vào tháng 4/2024 (do tai nạn giao thông) nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với Trương Thùy D, Lại Khánh V: Kết quả điều tra xác định: D và V là 02 nhân viên chia bài tại câu lạc bộ Poker do Trần Quang H và Trần Nhật Đ tổ chức. Khi xin vào làm việc, D và V được thông báo Câu lạc bộ trên được cấp phép hoạt động và tổ chức các giải đấu. Quá trình làm việc, D và V không biết về việc Câu lạc bộ chưa được sự chấp thuận của các cơ quan chức năng và không được tổ chức các giải đấu, không biết việc H và Đ tổ chức đánh bạc. Do đó hành vi của D và V không đồng phạm với H và Đ về tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại Điều 322 Bộ luật Hình sự.
Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Trần Quang H và Trần Nhật Đ phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Trần Quang H số tiền 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng).
Xử phạt: Bị cáo Trần Nhật Đ số tiền 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng).
3. Về xử lý vật chứng: Không có.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Trần Quang H và Trần Nhật Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Đồng Nai;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- Công an tỉnh Đồng Nai;
- VKSND khu vực 1 - Đồng Nai;
- Phòng THADS khu vực 1 - Đồng Nai;
- UBND nơi bị cáo cư trú;
- Công an nơi bị cáo cư trú;
- Các bị cáo;
- Lưu HS, THS.
Đồng Thị Kim Thoa Mặc khác, trong vụ án này hình thức đánh bạc “tài xỉu” do bị cáo Lê Đ Thành làm cái, trực tiếp trả tiền thắng thua với người chơi không thể xác định một người đánh bạc với nhiều người. Do đó, việc gộp chung số tiền sử dụng vào việc đánh bạc với số tiền thắng bạc để xem xét trách nhiệm hình sự trong trường hợp này là chưa chuẩn xác.
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:
Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:
(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân Hện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (Hện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân Hện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).
(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).
(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.
(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.
(6) ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.
(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.
(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thân ghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.
(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.
(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội D được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội D được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].
(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội D được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Tòa án cấp sơ thẩm phải giao hoặc gửi bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 262 của Bộ luật Tố tụng hình sự và những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |