- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Kim D và đồng phạm - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 322 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98/2025/HS-PT Ngày: 11 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Tuấn
Các Thẩm phán:
Bà Đinh Thị Tuyết
Ông Bùi Quốc Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2025/TLPT-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Kim Duyên, Nguyễn Kim Dũng về tội “Tổ chức đánh bạc”. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 67/2024/HS-ST ngày 17 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Kim D, sinh ngày 01/01/1966, tại Bắc Giang; Nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 07/10; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Kim H và con bà Trương Thị T (đều đã chết); Có vợ là: Nguyễn Thị T1 và có 02 con, sinh năm 1997 và 1999; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 27/7/2020 bị Công an huyện K xử phạt hành chính về hành vi rủ rê, lôi kéo, tụ tập người khác để đánh bạc trái phép, mức phạt là 5.000.000 đồng (chấp hành xong ngày 10/8/2020).
Bị tạm giữ từ ngày 21/4/2024 đến ngày 26/4/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay (Có mặt).
2. Họ và tên: Nguyễn Kim D1, sinh ngày 24/10/1997, tại Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Kim D (là bị cáo trong vụ án) và con bà Nguyễn Thị T1; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị tạm giữ từ ngày 21/4/2024 đến ngày 26/4/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay (Có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 bị cáo khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Quá trình sinh sống tại địa phương, Nguyễn Kim D thấy nhiều người có nhu cầu đánh bạc dưới hình thức đá gà nên đã đứng ra tổ chức cho các con bạc tham gia. Quá trình tổ chức đá gà tại vườn nhà mình, D đã chuẩn bị các vật dụng để đá gà như hố đá gà, nước, băng keo, đồng hồ, cân… để cho các chủ gà đem gà đến cáp kèo đá với nhau. Duyên quy định khi các chủ gà cáp được gà để đá với nhau, sau mỗi trận đá gà chủ gà thắng sẽ phải nộp cho D 300.000 đồng, chủ gà thua nộp 200.000 đồng. Giúp D trong việc tổ chức đánh bạc, còn có con trai của D là Nguyễn Kim D1, phụ giúp chuẩn bị nước rửa gà, cơm cho gà ăn. Ngoài ra D1 giúp D mua nước, thuốc lá, cơm để bán lại cho những người đến xem đá gà và cá cược đá gà. Nước uống D1 mua từ 8.000 đồng đến 12.000 đồng/1 chai, rồi bán lại cho những người đánh bạc và những người đến xem chai đầu tiên giá 50.000 đồng/chai; chai thứ hai trở đi thì bán với giá 15.000 đồng; thuốc lá D1 mua từ 15.000 đồng đến 25.000 đồng/gói, rồi bán lại 20.000 đồng đến 30.000 đồng/gói; cơm ai có nhu cầu ăn thì D1 đi mua, bán lại bằng với giá mua, dao động từ 20.000 đồng đến 25.000 đồng/hộp. Số tiền bán được cuối ngày D1 đưa lại cho D. Quá trình đá gà quy ước số tiền cá cược ban đầu là 2.000.000 đồng, đây là tiền khi chưa thả gà để đá gọi là “cược trong độ”, tiền cược này cố định, không thay đổi cho đến khi trận đá gà kết thúc, bên nào thua sẽ phải trả cho bên thắng số tiền này. Ngoài việc cá “cược trong độ”, những người xem đá gà có thể tham gia tự cá cược với nhau hoặc cược với chủ gà, gọi là “đá hàng xáo”, tỷ lệ cá cược thay đổi tùy thuộc vào diễn biến của trận đá gà và do người chơi tự ghi nhận với nhau, không qua người trung gian. Khi bắt đầu đá gà, hai con gà khi cáp với nhau được cho đá theo từng hiệp, thường gọi là hồ, mỗi hiệp 20 phút. Sau mỗi hiệp, gà sẽ được bắt ra để nghỉ ngơi, chăm sóc phục hồi sức khỏe trong thời gian 05 phút. Hai con gà sẽ đá với nhau đến khi có một trong hai con bỏ chạy, con nào chạy thì con đó thua, khi đó trận đá gà kết thúc.
Sáng ngày 21/4/2024, nhiều người đến xới đá gà do bị cáo D tổ chức, trong đó có bị cáo Cao Văn L và nhiều đối tượng khác. Sau khi thấy có nhiều người mang gà đến xới để cáp đá, bị cáo D cân gà và cáp được 02 cặp gà để đá, gồm:
Cặp thứ nhất: Con gà Ô có màu lông đen, của Huỳnh Trần Quang Đ với gà Tía có màu lông đỏ - đen của một người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch), hai chủ gà thống nhất cá cược tiền thắng thua với nhau là 2.000.000 đồng.
Cặp thứ hai: Con gà Tía chân vàng, có màu lông đỏ đen của Nguyễn Công A đá với gà Tía bông chân xanh, có màu lông đỏ, đen, trắng của người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch) hai chủ gà thống nhất cá cược tiền thắng thua với nhau là 2.000.000 đồng.
Cặp gà thứ nhất được mang ra đá trước, bị cáo Cao Văn L đã cá cược với 17 người khác cụ thể như sau:
1) Bị cáo L đặt cược gà Tía thắng với Nguyễn Đình L1, nếu gà T2 thắng bị cáo L sẽ thắng số tiền 2.000.000 đồng, nếu gà T2 thua bị cáo L sẽ thua cho Nguyễn Đình L1 số tiền 700.000 đồng.
2) Bị cáo L đặt cược gà Tía thắng với người đàn ông tên T3 (chưa rõ nhân thân, lai lịch), nếu gà T2 thắng bị cáo L sẽ thắng số tiền 1.000.000 đồng, nếu gà T2 thua bị cáo L sẽ trả cho T3 số tiền 500.000 đồng.
3) Bị cáo L đặt cược gà Tía thắng với Cáp Văn N, nếu gà T2 thắng bị cáo L sẽ thắng số tiền 1.000.000 đồng, nếu gà T2 thua bị cáo L trả cho Cáp Văn N số tiền 600.000 đồng.
4) Bị cáo L đặt cược gà Tía thắng với Nguyễn Văn H1, nếu gà T2 thắng bị cáo L sẽ thắng số tiền 500.000 đồng, nếu thua bị cáo sẽ trả cho Nguyễn Văn H1 số tiền 300.000 đồng.
5) Bị cáo L đặt cược gà Tía thắng với Trần Việt H2 (thường gọi là T4), nếu gà T2 thắng bị cáo L sẽ thắng số tiền 1.000.000 đồng, nếu thua bị cáo L sẽ trả cho Trần Việt H2 số tiền 600.000 đồng.
6) Bị cáo L đặt cược gà Tía thắng với một người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch) nếu gà T2 thắng bị cáo L sẽ thắng số tiền 1.000.000 đồng, nếu thua bị cáo L sẽ trả 400.000 đồng cho người này.
7) Bị cáo L đặt cược gà Tía thắng với Trần Văn Ú, nếu gà T2 thắng bị cáo L sẽ thắng số tiền 2.000.000 đồng, nếu thua bị cáo L sẽ trả cho Ú số tiền 1.000.000 đồng.
8) Bị cáo L đặt cược gà Tía thắng với người đàn ông tên N1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch), nếu gà T2 thắng bị cáo L sẽ thắng số tiền 2.000.000 đồng, nếu gà Tía thua, bị cáo L sẽ trả cho Ngày số tiền 900.000 đồng.
9) Bị cáo L đặt cược gà Ô thắng với người đàn ông tên thường gọi là B (chưa rõ nhân thân, lai lịch) nếu gà Ô thắng bị cáo L sẽ thắng số tiền 1.800.000 đồng, nếu thua bị cáo L sẽ trả cho B số tiền 4.000.000 đồng.
10) Bị cáo L đặt cược gà Ô thắng với người đàn ông tên H3 (chưa rõ nhân thân, lai lịch), nếu gà Ô thắng bị cáo L sẽ thắng số tiền 1.000.000 đồng, nếu thua bị cáo L sẽ trả cho H3 số tiền 600.000 đồng.
11) Bị cáo L đặt cược gà Ô thắng với người đàn ông tên C (chưa rõ nhân thân, lai lịch), nếu gà Ô thắng bị cáo L sẽ thắng số tiền 500.000 đồng, nếu thua bị cáo L sẽ trả cho C số tiền 1.000.000 đồng.
12) Bị cáo L đặt cược gà Ô thắng với Bùi Minh Q, nếu gà Ô thắng bị cáo L sẽ thắng số tiền 800.000 đồng, nếu thua bị cáo L sẽ trả cho Q số tiền 1.000.000 đồng.
13) Bị cáo L đặt cược gà Ô thắng với Nguyễn Ngọc T5, nếu gà Ô thắng bị cáo L sẽ thắng số tiền 600.000 đồng, nếu gà Ô thua bị cáo L sẽ trả cho T5 số tiền 1.000.000 đồng.
14) Bị cáo L đặt cược gà Ô thắng với người đàn ông tên T6 (chưa rõ nhân thân, lai lịch), nếu gà Ô thắng bị cáo L sẽ thắng số tiền 500.000 đồng, nếu thua bị cáo L sẽ trả cho T6 1.000.000 đồng.
15) Bị cáo L đặt cược gà Ô thắng với người đàn ông tên thường gọi là T7 (chưa rõ nhân thân, lai lịch), nếu gà Ô thắng bị cáo L sẽ thắng số tiền 500.000 đồng nếu thua bị cáo L sẽ trả cho anh T7 số tiền 1.000.000 đồng.
16) Bị cáo L đặt cược gà Ô thắng với Nguyễn Văn H1, nếu gà Ô thắng bị cáo L sẽ thắng số tiền 100.000 đồng, nếu thua L sẽ trả cho H1 500.000 đồng.
17) Bị cáo L đặt cược gà Ô thắng với Chu Văn H4, nếu gà Ô thắng bị cáo L sẽ thắng số tiền 200.000 đồng, nếu thua L sẽ trả cho Hay số tiền 1.000.000 đồng.
Tổng số tiền bị cáo L đặt cược trong cặp gà T2 – Ô là 16.100.000 đồng, trong đó gà T2 là 5.000.000 đồng và gà Ô là 11.100.000 đồng.
Ngoài cá cược với bị cáo Cao Văn L các đối tượng còn tham gia cá cược với những người khác, cụ thể:
- Nguyễn Đình L1 đặt cược gà Ô số tiền 300.000 đồng với người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch), nếu gà Ô thắng L1 sẽ thắng số tiền 500.000 đồng, nếu thua L1 thua số tiền 300.000 đồng.
- Phan Khánh Đ1 đặt cược gà Tía với người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch), nếu gà T2 thắng Đ1 sẽ thắng số tiền 500.000 đồng, nếu thua Đ1 thua số tiền 300.000 đồng.
- Nguyễn Thanh T8 đặt cược gà Ô với người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch) nếu gà Ô thắng T8 sẽ thắng số tiền 500.000 đồng, nếu thua T8 thua số tiền 350.000 đồng.
- Phan Văn H5 đặt cược gà Ô với người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch), nếu gà Ô thắng H5 sẽ thắng số tiền 500.000 đồng, nếu thua H5 thua số tiền 300.000 đồng.
- Đoàn Văn T9 đặt cược gà Ô số tiền 200.000 đồng với người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch), nếu gà Ô thắng T9 sẽ thắng số tiền 300.000 đồng, nếu thua T9 thua số tiền 200.000 đồng.
- Nguyễn Hữu N2 đặt cược gà Ô với người đàn ông N2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch), nếu gà Ô thắng N2 sẽ thắng số tiền 200.000 đồng, nếu thua N2 thua số tiền 200.000 đồng.
- Nguyễn Hướng đặt cược gà Tía với người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch), nếu gà T2 thắng H6 sẽ thắng số tiền 500.000 đồng, nếu thua H6 thua 200.000 đồng.
Khi cặp gà thứ nhất đá đến hồ thứ 8, do không còn người cá cược cho hai con gà này nên cả hai chủ gà thống nhất bỏ qua một xới khác nhỏ hơn để tiếp tục đá cho đến khi có kết quả thắng, thua. Cặp gà thứ hai được cho vào xới lớn để đá. Quá trình cặp gà thứ hai đá có những người tham gia cá cược, cụ thể như sau:
- Nguyễn Ngọc T5 đặt cược gà Tía bông, chân xanh với Nguyễn Công A (chủ gà Tía, chân vàng), nếu gà Tía bông (chân xanh) thắng T5 sẽ thắng số tiền 1.000.000 đồng, nếu thua T5 thua số tiền 1.000.000 đồng.
- Nguyễn Thành Đ2 đặt cược gà Tía, chân vàng với người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch), nếu gà T2, chân vàng thắng, Đ2 sẽ thắng số tiền 500.000 đồng, nếu thua Đăng thua số tiền 200.000 đồng.
Khi cặp gà T2 – Ô đang đá hồ thứ chín và cặp gà T2 – Tía bông đang đá hồ thứ hai thì tổ công tác của phòng C4 Công an tỉnh Đ phát hiện bắt quả tang thu giữ số tiền 63.250.000 đồng trên người của các bị cáo và các đối tượng liên quan, trong đó:
+ Tạm giữ của Nguyễn Kim D1 số tiền 2.400.000 đồng, đây là số tiền có được từ việc bán nước, thuốc lá, cơm cho những đối tượng đến tham gia xem đá gà, liên quan đến việc tổ chức đánh bạc.
+ Số tiền 39.150.000 đồng tạm giữ của Phan Văn H5 1.100.000 đồng; Nguyễn Công A 7.800.000 đồng; Nguyễn Đình L1 8.900.000 đồng; Nguyễn H6 1.000.000 đồng; Nguyễn Hữu N2 500.000 đồng; Phan Khánh Đ1 4.300.000 đồng; Bùi Minh Q 4.000.000 đồng; Nguyễn Thành Đ2 1.800.000 đồng; Nguyễn Ngọc T5 500.000 đồng; Nguyễn Thanh T8 2.800.000 đồng; Đoàn Văn T9 150.000 đồng; Cáp Văn N 2.500.000 đồng; Huỳnh Trần Q1 3.800.000 đồng.
+ Số tiền 21.700.000 đồng tạm giữ của Nguyễn Phước T10 400.000 đồng; Bùi Tấn C1 600.000 đồng; Phạm H7 3.300.000 đồng; Nguyễn Thành Đ3 300.000 đồng; Lương Vũ C2 1.000.000 đồng; Trần Hiển Đ4 2.700.000 đồng; Ngô Minh T11 3.200.000 đồng; Nguyễn Văn M 2.800.000 đồng; Dương Văn T12 900.000 đồng; Nguyễn Văn P 3.300.000 đồng; Nguyễn Đình C3 1.800.000 đồng; Trần Văn H8 1.400.000 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 67/2024/HS-ST ngày 17 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Kim D, Nguyễn Kim D1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”;
- Căn cứ khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim D 01 năm 06 tháng tù.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim D1 01 năm tù.
- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng Điều 32; khoản 3 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Xử phạt các bị cáo Nguyễn Kim D, Nguyễn Kim D1 mỗi bị cáo 20.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với bị cáo Cao Văn L nhưng không có kháng cáo, kháng nghị; quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 27/12/2024, bị cáo Nguyễn Kim D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Nguyễn Kim D1 kháng cáo xin được hưởng án treo và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Kim D, Nguyễn Kim D1 kháng cáo bổ sung xin được áp dụng hình phạt tiền và khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo và khẳng định bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Kim D và Nguyễn Kim D1 về tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới do đó đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Kim D, Nguyễn Kim D1: Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 67/2024/HS-ST ngày 17 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk về phần hình phạt.
- Áp dụng khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim D từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim D1 từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với kháng cáo về hình phạt bổ sung áp dụng cho bị cáo D1 là không có căn cứ chấp nhận.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Các bị cáo không tranh luận, bào chữa gì thêm mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận toàn bộ kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 21/4/2024, tại thôn L, xã P, huyện K bị cáo Nguyễn Kim D, Nguyễn Kim D1 đã tổ chức đá gà cho bị cáo Cao Văn L và các đối tượng khác tham gia cá cược thắng thua bằng tiền, tổng số tiền bị cáo Cao Văn L tham giá đánh bạc là 16.100.000 đồng. Do đó Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Kim D, Nguyễn Kim D1 về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của các bị cáo thấy rằng:
Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Kim D mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù là phù hợp, tương xứng với tính chất mức độ hành vi hậu quả do bị cáo gây ra. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm các bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới: gia đình có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, sau khi xét xử sơ thẩm đã nộp tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo D có bác ruột là Nguyễn Kim L2 là liệt sĩ. Do đó cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo D là phù hợp.
Đối với bị cáo Nguyễn Kim D1: tham gia với vai trò thứ yếu, số tiền thu lợi bất chính không lớn, lần đầu phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, có nơi cư trú rõ ràng, hiện nay bị cáo đang điều trị bệnh suy thận (hội chứng thận hư) nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho bị cáo được điều trị bệnh, thể hiện chính sách nhân đạo và khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.
Do đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo D1 nên việc áp dụng hình phạt bổ sung là không cần thiết, bởi lẽ bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, bị bệnh nặng không thể lao động được, trường hợp bị cáo đã tạm nộp tiền phạt bổ sung sẽ được khấu trừ theo quy định.
Từ những nhận định trên, cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo D, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt và chấp nhận kháng cáo của bị cáo D1, áp dụng hình phạt tiền và không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo Nguyễn Kim D, Nguyễn Kim D1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Kim D và kháng cáo của bị cáo Nguyễn Kim D1.
- Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 67/2024/HS-ST ngày 17 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk về phần hình phạt.
[2]. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim D 01 (Một) năm tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/4/2024 đến ngày 26/4/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim D1 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) về tội “Tổ chức đánh bạc” để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng Điều 32; khoản 3 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim D 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Kim D1. Số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) bị cáo D1 đã nộp theo biên lai thu số 0001230 ngày 27/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K sẽ được khấu trừ vào số tiền phạt của hình phạt chính.
[3] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Kim D, Nguyễn Kim D1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT I TAND tối cao; - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - Phòng HSNV CA tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - TAND huyện Krông Năng; - VKSND huyện Krông Năng; - Công an huyện Krông Năng; - Chi cục THADS huyện K; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Trần Duy Tuấn |