vanban.org

Bản án 98/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Tiền My.

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Nguyễn Thị Tiền My được ly hôn bị đơn Phạm Duy Luân. Về con chung: Giao con chung tên Phạm Diệu Linh, sinh ngày 14/5/2018 cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng. Không xem xét cấp dưỡng nuôi con do không có yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Tiền My.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH PHÚ YÊN
————
Bản án số: 98/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 17-11-2022
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vĩnh Phúc

Các Hội thẩm nhân dân: Lương Tấn Nghị và bà Phan Thị Liên

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nhật Trường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên

Ngày 17 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Sơn Thành Đông, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 230/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Nguyễn Thị Tiền My, sinh năm 1995

Địa chỉ: Thôn Thân Bình Đông, xã Sơn Thành Đông, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên

Có mặt tại phiên tòa

Bị đơn: Phạm Duy Luân, sinh năm 1995

Địa chỉ: Thôn Lễ Lộc Bình, xã Sơn Thành Đông, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thị Tiền My trình bày: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, được UBND xã Sơn Thành Đông, huyện Tây Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 13/12/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung hạnh phúc được một thời gian sau đó xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, hay bất đồng quan điểm nên nảy sinh ra mâu thuẫn, khi mâu thuẫn bị đơn thường đánh đập nguyên đơn, ngoại tình với người khác, do đó làm cho cuộc sống vợ chồng càng mâu thuẫn trầm trọng hơn, hai bên không còn chung sống với nhau từ năm 2020 đến nay. Tất cả các mâu thuẫn trên đều được chị Trần Ngọc Diễm – Người sống cùng nhà với nguyên đơn đơn và bị đơn chứng kiến. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn và không có khả năng đoàn tụ nên nguyên đơn xin ly hôn bị đơn để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Có một con chung tên Phạm Diệu Linh, sinh ngày 14/5/2018. Con chung hiện nay do nguyên đơn đang nuôi dưỡng nên ly hôn nguyên đơn xin Tòa giao con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vợ chồng không nợ ai cũng không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Trần Ngọc Diễm cũng có văn bản trình bày: Vợ chồng My – Luân khi cưới nhau thường đi làm ăn xa, chị Diễm là bạn chung ở cùng địa phương với nguyên đơn và bị đơn từ nhỏ nên có thuê nhà ở chung với vợ chồng My – Luân, do đó đã chứng kiến toàn bộ mâu thuẫn của vợ chồng My - Luân. Những lời trình bày của nguyên đơn là đúng sự thật.

Bị đơn Phạm Duy Luân đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt do đó không có ý kiến trình bày.

Tòa án huyện Tây Hòa đã tiến hành hòa giải nhưng không được do bị đơn vắng mặt.

Tại văn bản trình bày ý kiến của nguyên đơn được chính quyền địa phương xác nhận có nội dung: Giữa bà My và ông Luân có mâu thuẫn nên bị đơn đã về nhà mẹ đẻ sinh sống từ lâu, hai bên không còn chung sống với nhau. Tuy nhiên mức độ mâu thuẫn cụ thể như thế nào địa phương không rõ do các bên không yêu cầu địa phương hòa giải.

Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn, giao con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện kết hôn và được UBND xã Sơn Thành Đông, huyện Tây Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp, nguyên đơn có yêu cầu ly hôn nên quan hệ pháp luật tranh chấp là: Tranh chấp ly hôn.

Hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp pháp, bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thôn Lễ Lộc Bình, xã Sơn Thành Đông, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được triệu tập hơp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, do đó căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về yêu cầu của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn kết hôn đúng quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Nguyên đơn trình bày lý do xin ly hôn là do tính tình vợ chồng không hợp nên bất đồng quan điểm, đánh đập, ngoại tình dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng do đó tình cảm giữa nguyên đơn và bị đơn không còn. Lời trình bày của nguyên đơn phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và quá trình thẩm tra tại phiên tòa. Xét thấy giữa nguyên đơn và bị đơn không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Về con chung: Phạm Diệu Linh, sinh ngày 14/5/2018. Con hiện nay do nguyên đơn đang nuôi dưỡng nên ly hôn nguyên đơn xin Tòa giao con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng. Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt nên không trình bày ý kiến của mình về việc có nhận nuôi con chung hay không nên không xem xét. Hơn nữa con chung là con gái nên xét thấy sự chăm sóc của mẹ sẽ đảm bảo sự phát triển về thể chất và tâm sinh lý của con sẽ tốt hơn cha. Để đảm bảo cho sự phát triển tòan diện của con chung, Hội đồng xét xử thấy việc giao con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng là cần thiết. Do đó chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc được trực tiếp nuôi con chung. Bị đơn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn và bị đơn phải chịu án phí DSST về yêu cầu chia tài sản trên số tiền nhận được.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 33, 38, 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Tiền My.

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Nguyễn Thị Tiền My được ly hôn bị đơn Phạm Duy Luân.

Về con chung: Giao con chung tên Phạm Diệu Linh, sinh ngày 14/5/2018 cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng. Không xem xét cấp dưỡng nuôi con do không có yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về tài sản: không xem xét.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền phải thi hành án thì phải chịu thêm khoản lãi suất theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành xong.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn Nguyễn Thị Tiền My phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nguyên đơn đã nộp đủ tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí và lệ phí Tòa án số 0005770 ngày 15/8/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Hòa.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày từ ngày nhận được bản án hoạt bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ