- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn S - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn S phạm tội: Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật hình xử phạt; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 98/2017/HSST Ngày 12 tháng 6 năm 2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tòng Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Viễn; ông Vì Văn Đôi
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: ông Hoàng Văn Viên - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 85/2017/HSST ngày 16/5/2017 đối với các bị cáo sau đây:
Họ và tên: Lò Văn S; sinh năm 1995; Trú quán: Bản Tiả II, xã Đứa Mòn, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 11/12; Nghề nghiệp: trồng trọt; Đảng phái, Đoàn thể: Không; Con ông: Lò Văn Tr, sinh năm 1969; và bà Lò Thị H, sinh năm 1972; vợ Lò Thị S, sinh 1995, có 01 con sinh năm 2016.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Tháng 01/2017 Trưởng Công an xã Đứa Mòn xử phạt hành chính về hành vi gây mất trật tự công cộng do uống rượu. Được tại ngoại đến nay có mặt tại phiên toà.
Người bị hại: Ông Cà Văn Th; sinh năm 1986; trú tại bản Tỉa, xã Đứa Mòn, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Cầm Trọng Thủy- Trợ giúp viên pháp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY:
Bị cáo Lò Văn S bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Ngày 12/02/2017 Lò Văn S đến quán gia đình anh Cà Văn Thư, vợ là TH để bán 01 bao thóc, lúc cân thóc S nhìn thấy chiếc điện thoại OPPONEO7 của anh Thư ở đầu giường, S cầm lên để tính tiền thóc nhưng không biết mở mật khẩu nên đặt ở vị trí cũ, ngay lúc này chị TH tiền thóc 240.000 đồng, S đi về thấy vợ chồng chị TH không để ý đến S, nên S cầm lấy chiếc điện thoại mang về nhà cất giấu và tắt nguồn, tháo sim ra để lấy, bỏ sim điện thoại mình vào nhưng không được nên S nói với mẹ là bà Lò Thị Hỏa việc lấy trộm điện thoại, bà Hỏa biết việc S lấy trộm, bắt S phải trả lại. Đến 11 giờ ngày 13/02/2017 S mang điện thoại trả cho chị TH và nói là nhặt được ở cửa quán gia đình cô chú. Anh Thư chồng chị TH thấy S có hành vi gian dối nên đã viết đơn trình báo Đồn Công an và ban Công an xã Đứa Mòn giải quyết, S thú nhận toàn bộ hành vi lấy trộm tài sản và nhận bồi thường phục hồi Sim điện thoại do làm hỏng điện thoại số tiền 1.000.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 123/KL ngày 31/12/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện Sông Mã kết luận:
“01 ( một) chiếc điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO NEO 7 màu đen, imei 861485030891437 trị giá 2.890.000đ”.
Tại cáo trạng số 49/KSĐT – KT ngày 15/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Lò Văn S về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 điều 138 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1 điều 138, điểm b, g, h, p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Cải tạo không giam giữ Lò Văn S từ 18 đến 24 tháng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Về dân sự : Căn cứ vào điều 605 Bộ luật dân sự chấp nhận việc tự thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa bị cáo và bị hại.
Vật chứng: Quá trình điều tra xét thấy không còn ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án nên đã trả lại chủ sỡ hữu hợp pháp.
* Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Do nhân thức pháp luật hạn chế gia đình hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, Lò Văn S đã có hành vi lấy trộm tài sản của người khác mục đích sử dụng. Tuy nhiên hành vi chưa bị phát hiện bị cáo đã tự thú trả lại tài, quá trình điều tra bị cáo khai báo thành khẩn nhận tội, đã khác phục hậu quả cho bị hại, người bị hại không yêu cầu gi thêm, bản thân bị cáo mong muốn được phục thiện. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại các điểm b,g,o, p,h khoản 1 điều 46 Bộ luật hình xử phạt như viện kiểm sát đã viện dẫn, xử phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức phạt đối với bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, luật sư bào chữa, bị cáo.
XÉT THẤY:
Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn S vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai báo tại Cơ quan điều tra, không thay đổi bổ sung nội dung vụ án, hoàn toàn nhất trí nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sồng Mã đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo là toàn tự nguyện, phù hợp với kết quả giải quyết tố giác về tội phạm của công an huyện Sông Mã và vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện Sông Mã đã kết luận.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy đủ căn cứ kết luân: bị cáo Lò Văn S phạm tội: Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 138 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt từ “cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm” thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có mức hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Do không làm chủ được bản thân, bị cáo Lò Văn S đã lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của chủ sở hữu đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là 01 chiếc điện thoạn có tổng trị giá 2.890.000 đồng là nghiêm trọng. Hành vi gây dư luân xấu gây mất trật tự trị an tại đia phương do đó cần có hình phạt tương xứng để răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xét xét các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Quá trình điều tra tại phiên Tòa bị cáo thể hiên khai báo thành khẩn nhận tội, tự đầu thú với chủ sử hữu tài sản và khắc phục hậu quả, mức độ thiệt hại không lớn, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thật sự ăn năn hối cải, cần xét áp dụng các điểm b,o, g,h, p khoản 1 điều 46 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nơi thường trú rõ ràng, được gia đình nhận bảo lãnh, xét không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội, chỉ cần áp dụng biện pháp phạt cải tạo giáo dục, giao cho gia đình và Chính quyền địa phương nơi bị cáo đang thường trú giám sát cũng đảm bảo biện pháp giáo dục và phòng ngừa chung.
Về khấu trừ thu nhập bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễm việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Về hình phạt bổ: Xét thấy bị cáo không có khả năng thi hành, nên không áp dụng là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điều 605 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận việc bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vật chứng của vụ án: đối với 01 chiếc điện thoại di đông OPPO NEO 7, quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả cho anh Cà Văn Thư là chủ sở hợp pháp là phù hợp, cần được chấp nhận.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định chung.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lò Văn S phạm tội: Trộm cắp tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 138, Điều 31, điểm b, g, p, h khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lò Văn S 12 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã Đứa Mòn, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La nhận được bản án và Quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Lò Văn S cho UBND xã Đứa Mòn, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, quản lý giám sát giáo dục.
Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: không áp dụng đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 605 Bộ luật Dân sự, chấp nhận sự thỏa thuận mức bồi thường thiệt hại giữa bị cáo và bị hại.
4. Án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS; các điều 21, 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 12 tháng 6 năm 2017.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Sơn La ; - VKSND huyện Sông Mã; - Công an huyện Sông Mã; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu HS- AV. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Tòng Thị Hồng |