vanban.org

Bản án 97/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 19/06/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/06/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo Nguyễn Vũ Huy Tr và Ngô Diệp Tâm O. Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2023/HS-ST ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Vũ Huy Tr và Ngô Diệp Tâm O có hiệu lực pháp luật.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Minh Đ, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm. Xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Vu Huy Tr "To chuc su dung trai phep ma tuy" - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo Nguyễn Vũ Huy Tr và Ngô Diệp Tâm O. Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2023/HS-ST ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Vũ Huy Tr và Ngô Diệp Tâm O có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 255 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2023/HS-PT
Ngày: 19 - 6 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Hùng

- Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Duy Hoài

Ông Đặng Ngọc Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Trang – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 104/2023/TLPT-HS ngày 22 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Vũ Huy Tr và đồng phạm; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2023/HS-ST ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Vũ Huy Tr, sinh năm: 1984 tại: Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT và cư trú: 17/4 L, Phường 6, thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đình M, sinh năm 1955 và bà Võ Thị Thanh L, sinh năm: 1954; vợ: Nguyễn Mai L (đã ly hôn); con: 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 14-02-2013 bị Công an Phường 5, thành phố ĐL xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 13-3-2022. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an Thành phố ĐL. Có mặt.

2. Hoàng Minh Đ, sinh năm: 1994 tại: Hà Tĩnh; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố H, phường KP, thị xã KA, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: số 54 K, Phường 6, thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn A, sinh năm 1958 và bà Phùng Thị D, sinh năm 1960. Tiền án, Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 13-3-2022. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an Thành phố ĐL. Có mặt.

3. Ngô Diệp Tâm O, sinh năm: 1987 tại: Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT: 204A/7 Tự Phước, Phường 11, thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: số A14 Trần Lê, Phường 4, thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Đ, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1963; chồng: Đặng Vũ L, sinh năm: 1987 (đã ly hôn); con: 02 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2010. Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 13-3-2022. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an Thành phố ĐL. Có mặt.

Trong vụ án còn có bị cáo khác và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thành Tr thuê quán Karaoke Ken ở địa chỉ số 1/12 TP, Phường 3, TP ĐL, Lâm Đồng để kinh doanh, nhờ Ngô Diệp Tâm O đứng ra quản lý mọi hoạt động kinh doanh của quán và thuê Nguyễn Sơn H trông coi quán. Vào chiều ngày 12-3-2022, O mời bạn bè đến dự khai trương quán karaoke Ken do O đứng ra quản lý kinh doanh, bao gồm Nguyễn Vũ Huy Tr, Hoàng Minh Đ, Lê Công Ch, Lương Đình M, Nguyễn Hữu Phi D, Nguyễn Long H, Lê Nguyễn Tường V và Nguyễn Sơn H cùng một số bạn bè khác như Đ1, L … (không rõ nhân thân lai lịch). Sau khi ăn uống xong, đến 23 giờ, ngày 12-3-2022, cả nhóm đến quán bar DJ 365 ở số 291 Hai Bà Trưng, Phường 6, thành phố ĐL để uống rượu, nghe nhạc. Sau đó, Tr rủ thêm Trịnh Văn B đến quán DJ 365 chơi. Riêng Nguyễn Sơn H là nhân viên quán karaoke Ken nên ở lại trông coi quán, còn Nguyễn Long H thấy H dọn dẹp một mình nên đã ở lại phụ H dọn dẹp và ngủ tại quán.

Đến khoảng 01 giờ ngày 13-3-2022, sau khi nghe nhạc ở DJ 365 xong, O tiếp tục rủ mọi người về lại quán karaoke Ken để hát karaoke và nghe nhạc, thì mọi người đồng ý. Khi về đến quán, O gọi cửa thì H ra mở cửa quán và sắp xếp phòng Vip 3 của quán để mọi người cùng hát karaoke, nghe nhạc. Sau khi hát được một lúc thì Hoàng Minh Đ rủ thêm Nguyễn Ngọc Th, Lê Trúc L đến hát cùng thì Th và L đồng ý, Th rủ thêm Phan Gia Tr còn L rủ thêm Phạm Thị Việt Tr1 đến hát cùng. Cùng thời điểm này, Ch chở L về và được Đ1 nhờ đón Th và Tr, còn L và Tr1 tự đi taxi đến quán. Lúc này, Đ1 và Tr đi ra ghế salong ở sảnh lễ tân nơi H đang ngồi bàn bạc với nhau để mua nửa hộp 5 ma túy ketamine và 5 viên thuốc lắc của một người tên “Dương Bột Mì – Số điện thoại: 0946.306.573, để về cùng mọi người sử dụng trong phòng Vip 3 của quán. Tại sảnh lễ tân, Tr hỏi Đ1 về việc ai sẽ trả tiền sử dụng ma túy, Đ1 trả lời “Hết bao nhiêu”, Tr nói “5.200.000 đồng”, Đ1 nói “sao nhiều vậy, chia ra đi”. Lúc này, Ch đi ra nghe được việc Tr và Đ1 bàn bạc mua ma túy về sử dụng nên cũng nói với Đ1 “chầu trước anh em trả hết rồi, chầu này mày trả đi”, lúc này, Đ1 đồng ý trả hết tiền và thỏa thuận Tr ứng tiền trả trước và Đ1 sẽ chuyển lại tiền cho Tr vào sáng hôm sau. Thời điểm này, H ngồi cạnh Tr, ngồi xung quanh Đ1 và Ch nên nghe rõ việc Tr, Đ1, Ch bàn bạc về việc mua ma túy sử dụng trong quán nhưng không phản ứng gì.

Khoảng nửa tiếng sau, Dương Bột Mì gọi cho Tr để giao ma túy, Tr trả cho Dương Bột Mì số tiền 5.200.000 đồng rồi đem ma túy vào phòng Vip 3, Tr đưa số ma túy cho Đ1, Đ1 bỏ lại ma túy trên bàn rồi tự lấy ra một viên thuốc lắc, vừa đi vào nhà vệ sinh, vừa bẻ đôi viên thuốc lắc và uống một nửa, nửa còn lại, Đ1 làm rơi trong bồn cầu của nhà vệ sinh. Cũng trong khoảng thời gian này, Tr nói với B “Kiếm cái đĩa nào to nhất ở đây”, B nghe được thì hiểu là Tr nhờ B lấy đĩa, xào ke nên B đi xuống bếp lấy 01 chiếc đĩa sứ hình chữ nhật và đem lên phòng. B mượn của Đ1 (chưa rõ nhân thân lai lịch) 01 thẻ nhựa của ngân hàng Agribank, màu cam, mang tên “VU DUY BINH”; mượn của Mỹ 01 tờ tiền 10.000 đồng nhưng không nói cho Đ1 và Mỹ biết mục đích để làm gì. Sau đó, B đem đĩa sứ, thẻ nhựa, tờ tiền cùng với gói ma túy ketamine ra hành lang và hơ nóng đĩa, cà mịn ketamine, chia thành đường mảnh, quấn ống hút bằng tờ tiền 10.000 đồng. Sau khi đã nấu ma túy xong, B đem vào phòng để trên bàn rồi hít 02 đường ketamine, rồi lần lượt mời một số người trong phòng sử dụng ma túy rồi để lại trên bàn cho những người khác sử dụng. Trong quá trình sử dụng ma túy thì B có rủ Vương Triệu X đến hát cùng, Ch đi ra ngoài hành lang thì gặp Lò Thị H nên rủ H vào sử dụng ma túy cùng Ch thì H đồng ý, thời điểm này thì Lê Trúc L và Phạm Thị Việt Tr1 cũng đến quán theo lời mời của Hoàng Minh Đ trước đó.

Quá trình sử dụng ma túy của các đối tượng cụ thể như sau:

Ngô Diệp Tâm O được B bê đĩa cho hít ketamine trên đĩa, được B đưa cho ½ viên thuốc lắc, O bẻ một mảnh uống với nước lọc, còn lại một mảnh O đưa cho Mỹ sử dụng.

Hoàng Minh Đ lấy một viên thuốc lắc, bẻ đôi và sử dụng nửa viên thuốc lắc, nửa viên còn lại Đ1 làm rớt trong bồn cầu nhà vệ sinh. Lúc L và Tr1 đến, Đ1 mời L và Tr1 sử dụng ma túy nhưng L và Tr1 nói “lát nữa sẽ sử dụng”, sau đó chỉ có Tr1 tự lấy đĩa sử dụng một đường ma túy ketamine.

Nguyễn Vũ Huy Tr tự lấy đĩa hít 02 đường ketamine, sử dụng nửa viên thuốc lắc uống với nước, nửa còn lại Tr đưa cho Ch sử dụng, Tr còn đưa thuốc lắc cho Th sử dụng.

Trịnh Văn B có bê đĩa ketamine, đưa thuốc lắc mời O, bê đĩa ketamien cho H, Tr, Th hít ketamine.

Lê Công Ch tự lấy đĩa hít hai đường ketamine, được Tr đưa nửa viên thuốc lắc để sử dụng. Ngoài ra, Ch đưa đĩa ketamine cho H, sau đó H tự cầm đĩa sử dụng ma túy ketamine; Ch đưa cho H sử dụng nửa viên thuốc lắc.

Nguyễn Long H sử dụng 02 đường ketamine, một mảnh thuốc lắc. Trong lúc sử dụng thì H1 ngồi cạnh Dũng đang ngủ, H1 bê đĩa ketamine vỗ vai gọi Dũng dậy, Dũng tỉnh dậy thấy H1 đang cầm đĩa ketamine thì một tay Dũng đỡ phụ đĩa ketamine, một tay cầm ống hút, hít hai đường ketamine.

Nguyễn Sơn H vào phòng vip3 được B bê đĩa cho sử dụng một đường ketamine.

Lê Nguyễn Tường V tự lấy đĩa sử dụng một đường ketamine; Lương Đình M tự sử dụng 01 đường ketamine, sử dụng nửa viên thuốc lắc do O đưa; Nguyễn Hữu Phi D được H1 bê đĩa, sử dụng hai đường ketamine; Lê Trúc L được Đ1 mời sử dụng ma túy ketamine nhưng L nói sẽ sử dụng sau, sau đó, L chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang; Phạm Thị Việt Tr1 được Đ1 mời sử dụng ma túy ketamine nhưng Tr1 nói sẽ sử dụng sau, sau đó, Tr1 tự lấy đĩa, tự sử dụng một đường ketamine; Phan Gia Tr được B đưa đĩa cho hít hai đường ketamine và sử dụng nửa viên thuốc lắc, Tr tự lấy nửa viên thuốc lắc uống với nước; Nguyễn Ngọc Th được B đưa đĩa cho hít hai đường ketamine, và sử dụng nửa viên thuốc lắc, được Tr đưa cho viên thuốc lắc, Th lấy nửa viên uống với nước, còn lại để trên bàn; Vương Triệu X sử dụng hai đường ketamine, không sử dụng thuốc lắc; Lò Thị H tự sử dụng một đường ketamine, sử dụng nửa viên thuốc lắc do Ch đưa.

Đến 05 giờ sáng, ngày 13-3-2022, khi các đối tượng đang sử dụng ma túy tại phòng Vip 3 thì bị Công an phường 3 ập vào bắt quả tang tại chỗ, phát hiện trên bàn kính của phòng Vip 3 có 01 đĩa sứ màu trắng, hình chữ nhật, kích thước 20x30cm, trên đĩa có một lượng chất tinh thể màu trắng, nghi là ma túy, cùng với 01 thẻ nhựa, 01 ống hút được quấn từ tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng.

Tang vật thu giữ:

- 01 lượng chất tinh thể màu trắng, được thu gom trên chiếc đĩa sứ hình chữ nhật, kích thước 20x30cm.

- 01 đĩa sứ màu trắng, hình chữ nhật, kích thước 20x30cm.

- 01 thẻ nhựa.

- 01 ống hút được quấn từ tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng.

- Thu giữ của Ngô Diệp Tâm O: 01 giấy phép lái xe hạng A1 và 01 điện thoại di dộng hiệu Oppo, màu xanh – đen.

- Thu giữ của Nguyễn Vũ Huy Tr: 01 căn cước công dân số và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đen.

- Thu giữ của Lê Công Ch: 01 giấy phép lái xe hạng B2 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus, màu xám bạc.

- Thu giữ của Hoàng Minh Đ: 02 điện thoại di dộng hiệu Iphone 11 ProMax, màu xanh và hiệu Vertu, màu vàng – đen.

- Thu giữ của Trịnh Văn B: 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone Xs Max, màu trắng, 01 căn cước công dân và 01 chứng minh nhân dân.

- Thu giữ của Nguyễn Long H: 01 điện thoại di dộng hiệu Oppo, màu đen.

- Thu giữ của Nguyễn Sơn H: 01 điện thoại di dộng hiệu SamSung A12, màu xanh, và số tiền 350.000 đồng.

Và 10 điện thoại di động các loại, 03 căn cước công dân, 01 chứng minh nhân dân của 09 đối tượng liên quan còn lại

Tại bản kết luận giám định số: 268/KL – KTHS ngày 17/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Mẫu tinh thể đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng: 0,0466 gam. Ketamine là chất ma túy, nằm trong Danh mục III, STT: 35, Nghị định 73/2018/NĐ- CP ngày 15/5/2018 của Ch phủ.

Tại bản Cáo trạng số: 251/Ctr-VKS ngày 28 tháng 11 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo: Nguyễn Vũ Huy Tr, Hoàng Minh Đ, Ngô Diệp Tâm O, Lê Công Ch, Trịnh Văn B, Nguyễn Long H và Nguyễn Sơn H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2023/HS-ST ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng đã xử;

1. Về tội phạm và hình phạt:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Vũ Huy Tr, Hoàng Minh Đ, Ngô Diệp Tâm O, Lê Công Ch, Trịnh Văn B, Nguyễn Long H và Nguyễn Sơn H tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ Huy Tr 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13-03-2022.

Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Diệp Tâm O 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13-03-2022.

Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Minh Đ 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13-03-2022.

Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Công Ch 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13-03-2022.

Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trịnh Văn B 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13-03-2022.

Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, điểm h, khoản 1 Điều 52 ; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Long H 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13-03-2022.

Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Sơn H từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19-10-2022.

Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.

Ngày 17/4/2023 bị cáo Hoàng Minh Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt

Ngày 19/4/2023 bị cáo Nguyễn Vũ Huy Tr và Ngô Diệp Tâm O kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Vũ Huy Tr và Ngô Diệp Tâm O rút toàn bộ kháng cáo.

Bị cáo Hoàng Minh Đ không thắc mắc khiếu nại bản án sơ thẩm và giữ nguyên kháng cáo.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ Điều 348; điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Vũ Huy Tr và Ngô Diệp Tâm O; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Minh Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Rạng sáng ngày 13-3-2023 tại quán Karaoke Ken ở địa chỉ số 01/12 đường TP, Phường 3, thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng, Ngô Diệp Tâm O là người được quản lý, kinh doanh quán karaoke Ken, nhưng đồng ý để các đối tượng sử dụng ma túy, ngoài ra O còn có hành vi đưa một mảnh thuốc lắc cho Lương Đình M sử dụng; Nguyễn Vũ Huy Tr cùng với Hoàng Minh Đ, Lê Công Ch khởi xướng việc sử dụng ma túy, là người trực tiếp liên lạc đặt mua ma túy và sau đó cung cấp để các đối tượng sử dụng; Hoàng Minh Đ hứa trả toàn bộ tiền mua ma túy cho Tr, cung cấp ma túy cho Lê Trúc L, Phạm Thị Việt Tr1 sử dụng; Lê Công Ch đưa ketamine và thuốc lắc cho Lò Thị H sử dụng; Trịnh Văn B là người trực tiếp cà mịn ketamine, bê đĩa ketamine, đưa thuốc lắc mời Ngô Diệp Tâm O, Nguyễn Sơn H, Phan Gia Tr, Nguyễn Ngọc Th sử dụng; Nguyễn Long H gọi Nguyễn Hữu Phi D dậy và đỡ đĩa ketamine cho Dũng sử dụng.

Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đơn kháng cáo của các bị cáo gửi đến Tòa án trong hạn luật định và đúng quy định nên thời hạn kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ, nội dung kháng cáo của các bị cáo là xin được giảm nhẹ hình phạt.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, các bị cáo có thân nhân là người có công với cách mạng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Vũ Huy Tr và Ngô Diệp Tâm O rút toàn bộ kháng cáo. Xét thấy, việc rút đơn kháng cáo của các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật, vì vậy đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Tr và bị cáo O.

Đối với kháng cáo của bị cáo Hoàng Minh Đ: Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Đ không cung cấp tài liệu chứng cứ mới. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, hình phạt đưa ra đủ tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Vì vậy, không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo Hoàng Minh Đ phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 348; điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo Nguyễn Vũ Huy Tr và Ngô Diệp Tâm O. Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2023/HS-ST ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Vũ Huy Tr và Ngô Diệp Tâm O có hiệu lực pháp luật.

2. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Minh Đ, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm. Xử:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Minh Đ 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13-3-2022.

2. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Hoàng Minh Đ phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, hết thời hạn kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ