vanban.org

Bản án 97/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 18/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Thu H phạm tội tổ chức đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2022/HS-ST
Ngày 18-8-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN - TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đào Xuân Thủy;

2. Ông Dương Việt Hưng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lành Thị Thanh Nụ, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Khanh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý 90/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2022/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2022, đối với các bị cáo:

1. Đoàn Thu H, tên gọi khác: Không, sinh ngày 24 tháng 6 năm 1993 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: N, phường T, thành phố L; chỗ ở: Đường T, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Tày; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; trình độ học vấn: 12/12; con ông Đoàn Mạnh T và bà Lương Thị T; có chồng tên Nguyễn Mạnh V, sinh năm 1994 và 01 con sinh năm 2014; tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự về hành vi đánh bạc tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 19/QĐ-XPHC ngày 07/01/2022 của Công an phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn bị xử phạt số tiền 1.500.000đồng; nhân thân: Chưa từng bị kết án, xử lý kỷ luật nhưng đã từng 01 lần bị Công an phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 06/QĐ-XPHC ngày 07/11/2018, phạt tiền 1.500.000đ, đã được xóa; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 15/4/2022, tạm giam từ ngày 18/4/2022 đến ngày 25/5/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh cho đến nay, có mặt.

2. Phùng Thị T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 28 tháng 8 năm 1976 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khối C, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở: Đường N, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Nùng; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; trình độ học vấn: 07/12; con ông Phùng Văn P (đã chết) và bà Phạm Thị T; có chồng tên Hoàng Văn S, sinh năm 1971 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa từng bị kết án, xử lý kỷ luật nhưng đã 01 lần bị Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Vận chuyển hàng Trung Quốc nhập lậu theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ-XPHC ngày 09/01/2009 xử phạt số tiền 400.000đ, đã được xóa tiền sự; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 15/4/2022 đến ngày 18/4/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn sang biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.

- Người làm chứng: Chị Hoàng Thanh N, sinh năm 2003. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 50 phút ngày 15/4/2022, tại vỉa hè đầu ngõ H, đường L, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn tổ công tác Công an thành phố Lạng Sơn đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường L kiểm tra hành chính phát hiện Đoàn Thu H đang bán số lô, đề cho chị Hoàng Thanh N. Thu giữ của chị Hoàng Thanh N 01 tờ cáp đề, thu giữ của Đoàn Thu H 29 tờ cáp đề; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y12S 2021 màu xanh đen, số IMEI 865652058669393, lắp sim số thuê bao 0339.181.791 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu trắng, số IMEI 353839102183716 lắp sim số 0965.589.853; 01 căn cước công dân số 020193011088 mang tên Đoàn Thu H và số tiền 8.236.000 đồng. Đoàn Thu H khai nhận ngày 15/4/2022 tại bàn bán xổ số của Đoàn Thu H ở đầu ngõ H, đường L, phường V đã bán số lô, đề tư nhân cho khoảng 30 khách chơi là những người vãng lai Đoàn Thu H không biết họ tên, địa chỉ, ngoài ra Đoàn Thu H còn sử dụng số điện thoại 0339.181.791 nhận tin nhắn mua số lô, đề của Phùng Thị T qua số điện thoại 0333.103.380.

Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đoàn Thu H không thu giữ gì; khám xét khẩn cấp nơi ở của Phùng Thị T, thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 7 plus, màu hồng số IMEI 359171072564616, lắp sim số 0333.103.380, máy đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra xác định, ngày 15/4/2022, Đoàn Thu H nhận ghi số lô, số đề từ nhiều người chơi và chuyển số lô, đề cho một người đàn ông tên N không rõ địa chỉ để hưởng phần trăm lợi nhuận. Phùng Thị T mua số lô đề với Đoàn Thu H qua tin nhắn điện thoại.

Cách tính, mua số lô số đề được Đoàn Thu H và người chơi thỏa thuận như sau: Đề được tính theo hai số cuối của giải đặc biệt; giải nhất tính theo hai số cuối của giải nhất; ba càng (ba số) tính theo ba số cuối của giải đặc biệt của kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng hàng ngày đều tính 01 điểm = 1.000 đồng, số tiền thư ký trả cho chủ đề là 01 điểm = 730 đồng. Lô tính theo hai số cuối của các giải thưởng, 01 điểm lô bán với giá từ 22.000 đồng – 22.500 đồng; khách qua đường mua trực tiếp với giá 22.500 đồng/1 điểm; khách mua qua tin nhắn điện thoại với giá 22.000 đồng/1 điểm; số tiền thư ký trả cho chủ đề là 01 điểm lô = 21.800 đồng/01 điểm lô, hưởng từ 200 đồng – 700 đồng/01 điểm. Lô xiên gồm có lô xiên 2, lô xiên 3, lô xiên 4 là người mua cặp 2, 3 hoặc 4 của số có 02 chữ số hàng chục và hàng đơn vị của các giải thưởng; tính 01 điểm = 1.000 đồng, số tiền thư ký trả cho chủ đề là 01 điểm = 730 đồng. Trường hợp người chơi thắng thì 01 điểm đề hoặc 01 điểm giải nhất đều được 70.000 đồng; 01 điểm ba càng (ba số) được 400.000 đồng; 01 điểm xiên 2 được 10.000 đồng; 01 điểm xiên 3 được 40.000 đồng; 01 điểm xiên 4 được 100.000 đồng; 01 điểm lô được 80.000 đồng.

Hành vi mua bán số lô, đề của Đoàn Thu H, Phùng Thị T cụ thể như sau:

Đoàn Thu H đã bán trực tiếp cho khách qua đường và bán cho Phùng Thị T qua trao đổi tin nhắn điện thoại, tổng số 2.570 điểm số đề hai số, 410 điểm đề ba số, 150 điểm lô xiên ba, 3.247 điểm số lô, tương đương số tiền 75.037.500 đồng (bảy mươi lăm triệu không trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng); Đoàn Thu H phải chuyển đi là 73.069.500 đồng (bảy mươi ba triệu không trăm sáu mươi chín nghìn năm trăm đồng). Thời điểm phát hiện hành vi mua, bán số lô, đề của Đoàn Thu H bị phát hiện trước khi mở thưởng kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 15/4/2022, nên cơ quan điều tra không xác định số tiền thắng thua, Đoàn Thu H chưa chuyển tiền đi và chưa được hưởng lợi.

Phùng Thị T sử dụng số điện thoại 0333.103.380 nhắn tin đến số điện thoại 0339.181.791 của Đoàn Thu H để mua 04 số lô, tổng 2.000 điểm với giá 22.000đ/1 điểm, tương đương số tiền là 44.000.000 đồng. Sau khi nhắn tin mua số lô với Đoàn Thu H, Phùng Thị T chuyển số tiền 44.000.000 đồng từ số tài khoản 19036585178018 của Phùng Thị T, mở tại ngân hàng T đến số tài khoản 105867285183 của Đoàn Thị H, mở tại ngân hàng V để thanh toán mua số lô. Thời điểm phát hiện hành vi của Phùng Thị T trước khi mở thưởng kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 15/4/2022, nên cơ quan điều tra không xác định thắng thua.

Đối với Hoàng Thanh N, ngày 15/4/2022 đã mua trực tiếp 50 điểm số đề với Đoàn Thu H tại khu vực đường L, phường V, thành phố L với giá 1.000 đồng/điểm đề, tương ứng với số tiền 50.000 đồng, khi vừa nhận cáp đề chưa kịp thanh toán thì bị phát hiện, lập biên bản sự việc. Thời điểm phát hiện hành vi của Hoàng Thanh N trước khi mở thưởng kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 15/4/2022, nên không xác định thắng thua. Kết quả xác minh Hoàng Thanh N có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Lần vi phạm này chưa đến mức phải xử lý hình sự, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 17/QĐ – XPHC ngày 31/5/2022 đối với Hoàng Thanh N, phạt tiền 350.000đồng.

Ngày 26/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lạng Sơn đã ban hành Lệnh phong tỏa tài khoản số 07/LPT-HS đối với số tiền 44.000.000 đồng, có trong tài khoản số 105867285183 của Ngân hàng TMCP C, chi nhánh tỉnh Lạng Sơn, chủ tài khoản là Đoàn Thu H.

Đối với một số người mua số lô, đề của Đoàn Thu H và người đàn ông tên Nam đi thu cáp đề của Đoàn Thu H. Do Đoàn Thu H không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của những người này, do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ được để xử lý.

Tại Cáo trạng số 89/CT-VKS ngày 28/7/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Đoàn Thu H về tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Phùng Thị T về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đoàn Thu H phạm tội Tổ chức đánh bạc; bị cáo Phùng Thị T phạm tội Đánh bạc.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1, 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 58, 17 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đoàn Thu H từ 14 tháng đến 16 tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam vào thời hạn chấp hành án. Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo từ 20.000.000đồng đến 25.000.000đồng.

- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65, 17, 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phùng Thị T từ 14 tháng đến 16 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 28 tháng đến 32 tháng. Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo từ 10.000.000đồng đến 15.000.000đồng.

Về các biện pháp tư pháp và việc xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý như sau, đối với số tiền 75.037.500 đồng có liên quan đến hành vi tổ chức đánh bạc, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước, trong đó tịch thu số tiền 7.236.000 đồng hiện nay đang tạm giữ của bị cáo Đoàn Thu H, số tiền 44.000.000đồng đang được phong tỏa trong tài khoản của Đoàn Thu H, số tiền còn lại là 23.801.500đồng cần truy thu đối với bị cáo Đoàn Thu H để nộp ngân sách nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y12S 2021 màu xanh đen, số IMEI 865652058669393, lắp sim số thuê bao 0339.181.791 đã qua sử dụng thu giữ của Đoàn Thu H, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 7 plus, màu hồng số IMEI 359171072564616, lắp sim số 0333.103.380, máy đã qua sử dụng thu giữ của Phùng Thị T cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước do liên quan đến việc nhận, gửi số lô, đề; Trả lại cho bị cáo Đoàn Thu H 01 căn cước công dân số 020193011088 mang tên Đoàn Thu H và và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu trắng, số IMEI 353839102183716 lắp sim số 0965.589.853, trả lại cho bị cáo H số tiền 1.000.000 đồng do không liên quan hành vi phạm tội nhưng đề nghị tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng theo quy định.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử cho hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử xác định chị Hoàng Thanh N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, tuy nhiên hành vi của chị Hoàng Thanh N đã được xử phạt vi phạm hành chính, chị Hoàng Thanh N không có quyền lợi hoặc nghĩa vụ liên quan, do đó xác định lại tư cách chị Hoàng Thanh N là người làm chứng trong vụ án. Tại phiên tòa, vắng mặt người làm chứng chị Hoàng Thanh N, xét thấy chị Hoàng Thanh N đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ai có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đều hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay đều phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản sự việc và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 15/4/2022, tại đầu ngõ H, đường L, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Đoàn Thu H dựa trên kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng hàng ngày, thực hiện hành vi nhận ghi số lô, đề của nhiều người chơi qua đường (không xác định được tên, địa chỉ) và bị cáo Phùng Thị T với tổng số tiền đánh bạc được xác định là 75.037.500đồng, sau đó tổng hợp toàn bộ số lô, đề đã nhận của người chơi bằng cáp đề và chuyển trực tiếp cho người đàn ông tên N (không xác định được họ tên, địa chỉ), mục đích để người chơi đánh bạc với chủ đề nhằm hưởng phần trăm lợi nhuận với số tiền 1.968.000đồng. Bị cáo Phùng Thị T có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền, dưới hình thức mua số lô với bị cáo Đoàn Thu H qua tin nhắn điện thoại với số tiền đánh bạc xác định là 44.000.000đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Đoàn Thu H đã đủ căn cứ để xác định phạm vào tội Tổ chức đánh bạc theo điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Phùng Thị T đủ căn cứ xác định phạm vào tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, nếp sống văn minh, văn hóa, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn. Các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc dưới mọi hình thức đều bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do hám lời và ý thức coi thường pháp luật mà các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vụ án có tính chất đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, không có sự phân công tổ chức chặt chẽ, vì vậy cần phân hóa vai trò của các bị cáo cùng với số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, từ đó cân nhắc mức hình phạt tương xứng với từng bị cáo.

Bị cáo Đoàn Thu H có vai trò đồng phạm giúp sức trong việc tổ chức đánh bạc, thực hiện các hành vi để tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều người đánh bạc với chủ đề. Bị cáo Phùng Thị T có vai trò là người đánh bạc trực tiếp với bị cáo Đoàn Thu H.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Phùng Thị T phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Đoàn Thu H và bị cáo Phùng Thị T đều tự nguyện khắc phục một phần hậu quả, trước ngày xét xử bị cáo Đoàn Thu H nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn số tiền 20.000.000đồng, bị cáo Phùng Thị T nộp số tiền 10.000.000đồng, bị cáo Đoàn Thu H còn được xác nhận đã ủng hộ quỹ Chất độc màu da cam tại nơi cư trú, ngoài ra, các bị cáo đều được xác nhận chấp hành tốt các quy định tại địa phương nên các bị cáo cùng được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo Đoàn Thu H có nhân thân xấu do trong lần phạm tội này vẫn còn 01 tiền sự về hành vi đánh bạc, trước đó bị cáo đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc nhưng đã được xóa. Bị cáo Phùng Thị T tuy trong lần phạm tội này không có tiền sự và chưa từng bị kết án, nhưng năm 2009 đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi buôn bán nhập lậu hàng Trung Quốc, đã được xóa tiền sự, do vậy xác định có nhân thân chưa tốt.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân, nhận thấy cần phải cách ly bị cáo Đoàn Thu H ra khỏi xã hội một thời gian phù hợp với hành vi mà bị cáo đã gây ra để cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội. Bị cáo Phùng Thị T có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, vì vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo mà cho cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của Ủy ban nhân dân nơi cư trú cũng đủ sự răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội đều mục đích thu lợi bất chính cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với các bị cáo để nộp Ngân sách nhà nước. Xác nhận các bị cáo Đoàn Thu H đã nộp số tiền 20.000.000đồng, bị cáo Phùng Thị T đã nộp số tiền 10.000.000đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Về các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đối với số tiền 8.236.000đồng thu giữ của bị cáo Đoàn Thu H, bị cáo trình bày trong số tiền trên có 7.236.000đồng là tiền bị cáo nhận của người chơi số lô, đề qua đường, số tiền còn lại 1.000.000đồng là tiền chi tiêu hàng ngày của bị cáo, xét thấy số tiền 7.236.000đồng bị cáo có được từ việc phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước, số tiền còn lại 1.000.000đồng trả lại cho bị cáo do không có căn cứ xác định có liên quan đến hành vi phạm tội, việc trả lại cũng không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án, nhưng cần tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án. Đối với số tiền 44.000.000đồng trong tài khoản của bị cáo Đoàn Thu H đang được phong tỏa theo Lệnh của cơ quan cảnh sát điều tra, số tiền này bị cáo nhận từ bị cáo Phùng Thị T từ việc nhận số lô, đề của bị cáo Phùng Thị T, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Đối với số tiền sử dụng vào việc đánh bạc 75.037.500đồng, cần tịch thu số tiền này đối với bị cáo Đoàn Thu H, tuy nhiên đã tịch thu 7.236.000đồng và 44.000.000đồng theo nhận định ở trên, số tiền còn lại bị cáo Đoàn Thu H phải nộp ngân sách nhà nước là 23.801.500đồng.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y12S 2021 màu xanh đen thu giữ của bị cáo Đoàn Thu H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 7 plus thu giữ của bị cáo Phùng Thị T là công cụ các bị cáo sử dụng trong việc nhận và chuyển số lô, đề cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Đối với 01 căn cước công dân số 020193011088 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu trắng, số IMEI 353839102183716 lắp sim số 0965.589.853 thu giữ của bị cáo Đoàn Thu H do không liên quan hành vi phạm tội, việc trả lại cũng không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án cần trả lại cho bị cáo.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt, xử lý vật chứng, việc áp dụng biện pháp tư pháp, các vấn đề khác tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Đối với hành vi của Hoàng Thanh N vào ngày 15/4/2022 đã mua 50 điểm số đề trực tiếp với Đoàn Thu H tại khu vực đường L, phường V, thành phố L với giá 1.000 đồng/điểm đề, tương ứng với số tiền 50.000 đồng, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoàng Thanh N, do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với một số người mua số lô, đề của Đoàn Thu H và người đàn ông tên Nam đi thu cáp đề của bị cáo Đoàn Thu H, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý, do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

- Tuyên bố bị cáo Đoàn Thu H phạm tội Tổ chức đánh bạc.

- Tuyên bố bị cáo Phùng Thị T phạm tội Đánh bạc.

2. Về điều luật và mức hình phạt:

2.1. Căn cứ vào điểm c khoản 1, 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đoàn Thu H 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi chấp hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam là 40 ngày (từ ngày 15/4/2022 đến ngày 25/5/2022).

Phạt bổ sung bị cáo Đoàn Thu H số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước. Xác nhận bị cáo Đoàn Thu H đã nộp đủ 20.000.000đồng (hai mươi triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số AA/2021/0001119 ngày 16/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

2.2 Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58, 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phùng Thị T 14 (mười bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 28 (hai mươi tám) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/8/2022).

Giao bị cáo Phùng Thị T cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Đ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Phạt bổ sung bị cáo Phùng Thị T số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước. Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền phạt đủ 10.000.000đồng (mười triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số AA/2021/0001118 ngày 15/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

3. Về các biện pháp tƣ pháp và xử lý vật chứng

Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

3.1 Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y12S 2021 màu xanh đen, số IMEI 865652058669393, lắp sim số thuê bao 0339.181.791 đã qua sử dụng;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 7 plus, màu hồng số IMEI 359171072564616, lắp sim số 0333.103.380, máy đã qua sử dụng.

- Số tiền 7.236.000đồng (bảy triệu hai trăm ba mươi sáu nghìn đồng) được niêm phong trong phong bì của Công an thành phố Lạng Sơn, mặt trước phong bì có ghi “Đoàn Thu H 8.236.000đồng (tám triệu hai trăm ba mươi sáu nghìn đồng)”.

3.2 Trả lại cho bị cáo Đoàn Thu H:

- 01 (một) căn cước công dân số 020193011088 mang tên Đoàn Thu H;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11 Pro, màu trắng, số IMEI 353839102183716, lắp sim số 0965.589.853.

- Số tiền 1.000.000đồng (một triệu đồng) được niêm phong trong phong bì của Công an thành phố Lạng Sơn, mặt trước phong bì có ghi “ Đoàn Thu H 8.236.000đồng (tám triệu hai trăm ba mươi sáu nghìn đồng)”. Tạm giữ số tiền 1.000.000đồng nói trên để đảm bảo thi hành án.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/8/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn).

3.3 Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 44.000.000đồng (bốn mươi bốn triệu đồng) có trong tài khoản số 105867285183 của Đoàn Thu H, mở tại ngân hàng TMCP C, chi nhánh tỉnh Lạng Sơn.

Duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản số 07/LPT-HS ngày 26/5/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Lạng Sơn để đảm bảo thi hành án.

3.4 Truy thu của bị cáo Đoàn Thu H số tiền 23.801.500đồng (hai mươi ba triệu tám trăm linh một nghìn năm trăm đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

4. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ