vanban.org

Bản án 97/2021/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 03/11/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội Hủy Hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2021/HS-PT
Ngày 03-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Bình

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thiệm

Bà Trần Thị Vân Thúy

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Đức – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trương Ngọc Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 62/2021/TLPT-HS ngày 22 tháng 7 năm 2021 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2021/HS-ST ngày 23 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

Bị cáo kháng cáo:

Nguyễn Văn T sinh ngày 24 tháng 7 năm 1988 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn Trại, xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Miện và bà Bùi Thị Phải; có vợ Bùi Thị Hà và có 02 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ ngày 19 tháng 12 năm 2020, Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô biển số 14B-028.66 (chủ xe là Bùi Quốc Hiển, địa chỉ Quang Trung, Uông Bí, Quảng Ninh) đón khách từ Hà Nội về Hải Phòng. Khi đến khu vực ngã tư Vọng, Đống Đa, Hà Nội thì gặp xe ô tô biển số 15B-036.78 (chủ xe là Nguyễn Văn Tính ở thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng) do anh Đinh Văn T điều khiển cũng đón khách từ Hà Nội về Hải Phòng. Cho rằng T đón nhầm khách của mình nên T bảo T để khách sang xe 15B-036.78 nhưng T không đồng ý với lý do khách đã gọi điện cho mình. Giữa hai người xảy ra tranh cãi, xô xát với nhau nhưng chưa gây hậu quả rồi tiếp tục lên xe đi về Hải Phòng.

Khoảng 19 giờ 45 phút khi xe của anh T về đến nút giao thông quốc lộ 10 đoạn qua khu công nghiệp Tràng Duệ, An Dương thì thấy xe của T dừng chờ phía trước. T cầm một chiếc quay lốp ô tô bằng kim loại hình chữ L đứng bên đường ra hiệu cho anh T xuống xe. Anh T điều khiển xe đi qua thì T cầm quay lốp đập vào cửa chắn gió bên phụ làm vỡ kính. Anh T tiếp tục cho xe đi tiếp thì T lên xe ô tô đuổi theo đến khu vực Cầu Rế 2 thuộc xã Bắc Sơn thì va chạm vào sau xe 15B-036.78. T cho xe vượt lên trước chặn xe anh T lại rồi xuống xe cầm quay lốp tiếp tục đập vào cửa chắn gió bên lái xe 15B-036.78 làm vỡ kính. Trong lúc anh T gọi điện báo cho lực lượng công an đến giải quyết thì T cầm quay lốp cọ vào thành xe ô tô 15B-036.78 làm xước sơn xe.

Ngày 11/01/2021, Hội đồng định giá tài sản kết luận: Chi phí khắc phục xe ô tô khách 15B-036.78 là 7.120.000 đồng, gồm thay kính chắn gió cánh cửa bên lái, bên phụ; thay gioăng cao su; nắn chỉnh và sơn lại cản sau; xử lý vết trượt xước 2 bên sườn xe phía trên (trong đó chi phí thay kính chắn gió và gioăng cao su cánh cửa bên phụ là 2.060.000 đồng).

Tại Bản án số 48/2021/HS-ST ngày 23/6/2021, Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng đã Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Văn T 12 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/6/2021, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo với lý do bị cáo lần đầu phạm tội trong lúc nóng giận, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bôi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại. Ngoài ra bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải nuôi con nhỏ và cha mẹ già. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo để bị cáo có cơ hội được cải tạo ngoài xã hội.

* Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau:

Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã thể hiện đầy đủ nội dung vụ án. Bản án sơ thẩm đã đánh giá và áp dụng các quy định của pháp luật về chứng cứ, tội danh để tuyên phạt bị cáo là phù hợp các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, việc áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g Khoản 1 Điều 52 BLHS là chưa đúng với diễn biến của vụ án. Bên cạnh đó, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”. Do vậy, bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 51 BLHS và cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e Khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo: Bỏ tình tiết tăng nặng “Phạm tội từ 02 lần trở lên” quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự áp dụng thêm cho bị cáo 01 tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn sơ thẩm, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Vào hồi 19 giờ 45 phút ngày 19/12/2020, tại khu vực nút giao thông quốc lộ 10 đoạn qua khu công nghiệp Tràng Duệ, bị cáo Nguyễn Văn T đã có hành vi dùng chiếc quay lốp ô tô bằng kim loại đập vào cửa chắn gió bên phụ của xe ô tô BKS 15B-036.78 làm vỡ kính phải thay kính gây thiệt hại 2.060.000 đồng. Sau đó T tiếp tục đuổi theo đến khu vực Cầu Rế 2 rồi đập cửa chắn gió bên lái, cọ vào thành xe ô tô BKS 15B-036.78 làm vỡ kính, xước sơn xe phải thay kính, sơn lại xe gây thiệt hại trị giá 5.060.000 đồng. Tổng thiệt hại bị cáo Nguyễn Văn T đã gây ra là 7.120.000 (Bảy triệu, một trăm hai mươi nghìn) đồng. Vì vậy, Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” vi phạm khoản 1 Điều 178 BLHS là đúng quy định pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo:

Hội đồng xét xử nhận thấy: Mâu thuẫn giữa bị cáo T và bị hại T xuất phát từ việc đón nhầm khách. Bị cáo và bị hại đã có xô xát nhưng chưa gây hậu quả rồi tiếp tục lên xe về Hải Phòng. Sau khi cả 02 xe về đến Hải Phòng, bị cáo T dùng quay lốp đập vào cửa kính chắn gió lần thứ nhất, bị hại là anh T không dừng xe lại mà tiếp tục cho xe đi qua. Bị cáo lên xe đuổi theo và có hành vi đập vào kính chắn gió bên lái và cọ vào lốp làm xước sơn xe. Hành động của bị cáo xảy ra suốt một quá trình trên tuyến đường từ Hà Nội về Hải Phòng. Trong quá trình này những hành vi của bị cáo diễn ra liên tục không có sự ngắt quãng thể hiện qua một loạt các hành vi: Xô xát với nhau từ trên Hà Nội, đập của kính lái, đập cửa kính phụ, cọ vào thành xe ô tô… Hành vi của bị cáo liên tục tiếp diễn về mặt thời gian, cùng tính chất nên không thể phân tách từng hành vi cụ thể là mỗi lần phạm tội như tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định. Do đó, đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận: Sửa bản án sơ thẩm theo hướng không áp dụng tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn T nhân thân chưa có tiền án tiền sự, đây là lần đầu tiên bị cáo phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó cần bổ sung áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Bên cạnh đó, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 50.000.000 đồng, quá trình điều tra truy tố và tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử xét thấy mặc dù bị cáo được bỏ 01 tình tiết tăng nặng và hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ nhưng mức án 12 tháng tù giam mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do đó không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên có thể áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Với các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy cần sửa bản án sơ thẩm về phần áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ theo hướng không áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52; áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ điểm b Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Hình sự: Sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 12 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Văn T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.

2. Các quyết định khác của Bản án số 48/2021/HS-ST ngày 23/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ