vanban.org

Bản án 96/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Anh Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hà Anh Q 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ là ngày 27 tháng 3 năm 2026. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Anh Q - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Anh Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2026/HS-ST
Ngày 28-7-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Liễu Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Chu Thị Bời;

Bà Nguyễn Thị Lợi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trường Sinh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2026/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2026/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2026, đối với bị cáo:

Hà Anh Q; sinh ngày 08 tháng 7 năm 2001 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn V1, xã V2, tỉnh Lạng Sơn; căn cước công dân số: 0202010003**; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn N1 và bà Bế Thị T1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị bắt, tạm giữ từ ngày 27-3-2026 và tạm giam từ ngày 02-4-2026 đến nay; có mặt.

- Người chứng kiến: Bà Đường Thị H, sinh năm 1983; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hà Anh Q đang làm nhân viên rửa xe tại xưởng ô tô N2, có địa chỉ ở thôn V3, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn. Khoảng 20 giờ ngày 26-3-2026, Hà Anh Q ra khu vực bờ suối thuộc thôn V3 chơi. Tại đây, Hà Anh Q gặp một người đàn ông khoảng 50 tuổi, không biết họ tên, địa chỉ. Sau khi trao đổi, Hà Anh Q đã mua với người đàn ông 200.000 (hai trăm nghìn) đồng được 01 (một) gói ma túy Heroin; rồi đem gói ma túy ra khu vực bờ suối sử dụng một phần bằng hình thức hít, sau đó gói số ma túy còn lại, dùng mảnh giấy vệ sinh để gói gói ma túy và mảnh giấy bạc vừa dùng để sử dụng ma túy lại, cất vào túi quần rồi đi về cửa hàng ngủ, bị cáo chỉ có một mình ở cửa hàng. Sáng hôm sau, do bị mệt nên bị cáo xin nghỉ làm và đi về nhà tại thôn V1, xã V2, tỉnh Lạng Sơn. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 27-3-2026, Công an xã V2, tỉnh Lạng Sơn triệu tập Hà Anh Q đến trụ sở để kiểm tra xét nghiệm chất ma tuý. Tại trụ sở Công an xã, Hà Anh Q đã tự giác lấy gói ma túy từ trong túi quần ra giao nộp; Công an xã V2, tỉnh Lạng Sơn đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định.

Cơ quan công an đã tạm giữ của Hà Anh Q: 01 (một) gói giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh) bên trong có 01 (một) gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy, được niêm phong trong 01 (một) phong bì thư dán kín có chữ “QT Hà Anh Q”; 01 (một) mảnh giấy bạc đã bị đốt có kích thước khoảng 6,5 x 03cm.

Tại Kết luận giám định số 372/KL-KTHS ngày 30-3-2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: “Chất bột màu trắng có trong 01 (một) gói giấy nhỏ màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroin, có khối lượng 0,147 gam (đã trừ bì)”. (Tại Công văn số 87/PC09 ngày 17-3-2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn khẳng định: “… chất ma túy được gọi là Heroine hoặc Heroin đều là tên gọi của cùng một chất ma túy có tên khoa học là Diacetylmorphine”).

Cơ quan công an đã tiến hành kiểm tra xét nghiệm chất ma túy, xác định Hà Anh Q dương tính với ma túy và đã tiến hành xác minh cho thấy Hà Anh Q không tham gia cai nghiện ma túy tự nguyện và không tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế do cơ quan chức năng quản lý và không thuộc diện quản lý sau cai nghiện.

Người chứng kiến chị Đường Thị H khai được chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang và niêm phong tang vật theo đúng quy định của pháp luật.

Tại Cáo trạng số 23/CT-VKSKV2 ngày 22-6-2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn truy tố bị cáo Hà Anh Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như nội dung Cáo trạng đã truy tố, giữ nguyên các lời khai về hành vi đã thực hiện và thừa nhận việc mua ma tuý về tàng trữ để sử dụng là vi phạm pháp luật; bị cáo có đơn xin miễn án phí.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hà Anh Q; tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; xử phạt bị cáo từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy phong bì chứa ma túy còn lại sau giám định và các vỏ bao gói, 01 (một) mảnh giấy bạc. Bị cáo có đơn xin miễn án phí, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Tại lời nói sau cùng bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của bản thân và xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 27-3-2026, Công an xã V2, tỉnh Lạng Sơn đã phát hiện bắt quả tang Hà Anh Q có hành vi tàng trữ trái phép 0,147 gam chất ma túy Heroin với mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, phù hợp với vật chứng đã thu giữ được, Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Hà Anh Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025). Theo kết quả xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể của Hà Anh Q cho kết quả dương tính với chất ma túy. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh cho thấy Hà Anh Q không có trong danh sách cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế; không thuộc trường hợp quản lý sau cai nghiện, do đó không thuộc trường hợp quy định tại Điều 256a của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thấy rằng: Hành vi mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân gián tiếp gây ra tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy đối với bản thân và xã hội, nhưng chỉ vì để có ma túy cho bản thân sử dụng, đã bất chấp pháp luật và dư luận xã hội, để thực hiện hành vi phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, xét thấy có nhân thân tốt.

Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết xử phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo biên bản xác minh của Cơ quan điều tra và qua xét hỏi công khai tại phiên tòa sơ thẩm thấy rằng: Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ các vỏ bao gói được niêm phong trong 01 (một) phong bì và 01 (một) mảnh giấy bạc đã qua sử dụng là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật không sử dụng được.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ; cơ quan điều tra không làm rõ được nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước, tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí và thuộc trường hợp quy định nên được miễn án phí. Bị cáo, có quyền kháng cáo theo quy định.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của bị cáo, nội dung phù hợp với nhận định được chấp nhận, nội dung không phù hợp với nhận định không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025).

Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Anh Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hà Anh Q 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ là ngày 27 tháng 3 năm 2026.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì thư đã niêm phong có chữ “QT Hà Anh Q” (cũ), có chữ ký của giám định viên Bùi Anh T2, trợ lý giám định, đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới.

+ 01 (một) mảnh giấy bạc đã bị đốt có phần kích thước khoảng 6,5 x 03cm.

(Vật chứng đang được lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực * - Lạng Sơn theo Biên bản giao nhận vật chứng và tài liệu, đồ vật ngày 26-6-2026).

4. Về án phí: Bị cáo Hà Anh Q được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ