- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn U - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn U. Giữ nguyên bản án
- Căn cứ chính? Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2022/HS-PT Ngày 12 - 9 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Lâm.
Các Thẩm phán:
Ông Võ Thái Sơn.
Bà Lê Thị Thọ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ánh Trúc - Thẩm tra viên, Tòa án nhân
dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa:
Ông Hứa Minh Thạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 9 năm 2022 tại Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 83/2022/TLPT-HS
ngày 12 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo Phan Văn U do có kháng cáo của bị
cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2022/HS-ST ngày 29 tháng 6 năm
2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
Phan Văn U - sinh năm: 1961 tại K, Sóc Trăng. Nơi cư trú: Ấp P, thị trấn
M, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 5/12;
dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông
Phan Văn T và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Nguyễn Thị Đ và có 01 người con;
tiền án: Không; tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số:
1226/QĐ-XPHC ngày 22/3/2021 của Công an tỉnh Sóc Trăng xử phạt vi phạm
hành chính đối với Phan Văn U về hành vi vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu
nhập lậu, hình thức phạt tiền với mức phạt 40.000.000 đồng, Phan Văn U chưa
chấp hành quyết định xử phạt; bị bắt, tạm giam: Không. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 17/01/2022, Phan Văn U điều khiển xe
mô tô biển kiểm soát 69K4 -7831 từ nhà thuộc ấp P, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang đến khu vực cầu Cái Khế thuộc thành phố Cần Thơ để mua 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu, (gồm 50 bao nhãn hiệu JET và 50 bao thuốc lá nhãn hiệu HERO) của một người phụ nữ khoảng hơn 50 tuổi, không biết họ tên, địa chỉ cụ thể với giá thuốc lá hiệu JET là 19.000 đồng một bao, thuốc lá nhãn hiệu HERO là 16.000 đồng một bao, mục đích về bán kiếm lời, thuốc lá mua được U đựng trong bịch ni lông màu đen để trong giỏ xách màu xanh-vàng-đỏ. Sau khi mua thuốc lá xong, U để trên baga xe và điều khiển về nhà, khi đến nhà U để xe ngoài sân, số thuốc lá vẫn để trên xe.
Đến khoảng 13 giờ 50 phút cùng ngày, bà Trần Thị Mộng Th, sinh năm
1985, nơi ở hiện tại: ấp P, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang điện thoại cho U để mua 50 bao thuốc lá nhãn hiệu JET nên U điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 69K4-7831 chở 100 bao thuốc lá mua được đi bán cho bà Th 50 bao thuốc JET, còn 50 bao thuốc lá HERO định đem bán cho các tiệp tạp hóa trên địa bàn thị trấn M. Nhưng khi U đi đến lộ nông thôn thuộc ấp P, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang thì bị kiểm tra phát hiện bắt quả tang.
Ngoài ra, trước ngày 17/01/2022 khoảng 10 ngày U còn bán thuốc lá điếu
nhập lậu cho bà Trần Thị Mộng Th 40 bao thuốc lá nhãn hiệu JET, bán cho bà Đỗ Lệ Q, sinh năm 1953, ĐKTT: ấp P, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang 40 bao thuốc lá nhãn hiệu HERO và bán cho một người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ số lượng 10 bao thuốc lá nhãn hiệu HERO, 10 bao thuốc lá nhãn hiệu JET.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2022/HS-ST ngày 29 tháng 6 năm
2021 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn U phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Áp dụng: điểm e khoản 1 Điều 190; Điều 38, Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ
luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.
Xử phạt bị cáo Phan Văn U 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ
ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí và
quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 30/6/2022, bị cáo Phan Văn U kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và
xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa đề
nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ
luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn U, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Phan Văn U có đơn kháng cáo. Xét đơn
kháng cáo của bị cáo phù hợp với quy định tại các Điều 331, Điều 332 và Điều
333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên chấp nhận đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục
phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Văn U thừa nhận toàn bộ hành
vi phạm tội theo như nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm. Đối chiếu lời khai
của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội
đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 17/01/2022, bị cáo Phan Văn U
đã thực hiện hành vi mua 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu tại thành phố Cần Thơ
sau đó vận chuyển về địa bàn tỉnh Hậu Giang để bán lại. Trong lúc bị cáo vận
chuyển thuốc lá điếu nhập lậu đến ấp P, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang để
bán lại thì bị bắt quả tang. Bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành
vi vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu, chưa hết thời hạn được coi là
chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử
bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 190
của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin đực hưởng án treo của bị
cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã xem xét
áp dụng cho bị cáo đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản
1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị
cáo, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 12 (mười hai) tháng tù là tương xứng. Bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu với số tiền 40.000.000 đồng nhưng đến nay bị cáo vẫn chưa chấp hành xong quyết định xử phạt. Mặc dù đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng bị cáo không ý thức được việc chấp hành pháp luật mà vẫn tiếp tục vi phạm và ngoài lần bị bắt quả tang ngày 17/01/2022 thì trước đó bị cáo cũng đã có thực hiện hành vi buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu cho nhiều người khác. Qua đó cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo không tốt. Vì vậy, cần có mức án nghiêm khắc hơn để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo xin được hưởng án treo nhưng tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cũng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Xét thấy với ý thức chấp hành pháp luật như đã nêu trên và các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định của pháp luật và không có căn cứ để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Đại
diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định
của pháp luật, do kháng cáo của bị cáo không được Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng
hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn U. Giữ nguyên bản án
sơ thẩm.
Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn U phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Áp dụng: Điểm e khoản 1 Điều 190; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ
luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Phan Văn U 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về án phí: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND tỉnh Hậu Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang; - CA tỉnh Hậu Giang (PV06); - TAND, VKSND, CQĐT, Chi cục THADS huyện C; - Công an xã nơi bị cáo cư trú; - Lưu: HSVA; THS; VP. | (Đã ký) Phạm Hoàng Lâm |