vanban.org

Bản án 95/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 31/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về trách nhiệm hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá L 02 (hai) năm 3 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/11/2022. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến N 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo N và đồng phạm Tổ chức SDMT - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? [1] Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2023/HS-ST
Ngày: 31-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Giáp Huy Tưởng

2. Ông Nguyễn Tiến N

- Thư ký phiên toà: Bà Chu Thị Minh Nguyệt- Thư ký Toà án nhân dân huyện V Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Mai- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện V Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2023/TLST- HS ngày 27 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Tiến N; sinh năm 2000; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn Múc, xã Trường Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: V Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Tiến Bảo; Con bà: Nguyễn Thị Nga; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị Hồng Nga; Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/11/2022 đến nay; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh Bắc Giang (có mặt).

2. Nguyễn Bá L; sinh năm 2000; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn Tân THnh, xã Trường Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: V Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Bá Phúc; Con bà: Nguyễn Thị Hường; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/11/2022 đến nay; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh Bắc Giang (có mặt).

3. PHn Thị N, sinh ngày 11/01/2004; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT: Thôn Lùng Búng, xã Na Khê, huyện Yên Minh, tỉnh H Giang; Chỗ ở: Thôn Bẩy, xã Tăng Tiến, huyện V Yên, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: V Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: PHn V Sáng; Con bà: Tẩn Thị Giàng; Gia đình 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/11/2022 đến nay; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam-Công an tỉnh Bắc Giang (có mặt).

4. Tẩn Thị H; sinh ngày 26/4/2004; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT: Thôn Lùng Búng, xã Na Khê, huyện Yên Minh, tỉnh H Giang; Chỗ ở: Thôn Bẩy, xã Tăng Tiến, huyện V Yên, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: V Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Tẩn A Đào; Con bà: PHn Thị Đấu; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất; Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/11/2022 đến nay; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh Bắc Giang (có mặt).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Lê Hồng V, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Chùa, xã Tăng Tiến, huyện V Yên, tỉnh Bắc Giang

- Chị Thân Thị H, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Chùa, xã Tăng Tiến, huyện V Yên, tỉnh Bắc Giang

- Anh Thân V K, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Chùa, xã Tăng Tiến, huyện V Yên, tỉnh Bắc Giang

- Anh Nguyễn Bá Đ, sinh năm 1988 (có mặt)

Nơi cư trú: Thôn Tân THnh, xã Trường Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

- Chị Đinh Thị Thu N, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn An Phước, xã Cam THnh, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.

- Anh Tạ V V, sinh năm 1999 (vắng mặt)

Nơi ĐKHKTT: Thôn Yên Lập, xã Yên Lư, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

Hiện ở: Thôn Xào, xã Đa Phúc, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 45 phút ngày 14/11/2022, Đội Cảnh sát Quản lý Hnh chính về trật tự xã hội- Công an huyện V Yên tiến Hnh kiểm tra quán Karaoke Bambi do anh Lê Hồng V- sinh năm 1978 và chị Thân Thị H- sinh năm 1982 thuộc thôn Chùa, xã Tăng Tiến, huyện V Yên, tỉnh Bắc Giang làm quản lý. Quá trình kiểm tra phát hiện tại phòng Vip 1 tầng 1 của quán có 04 người có Hnh vi sử dụng trái phép chất ma túy gồm: Nguyễn Tiến N, Nguyễn Bá L, PHn Thị N và Tẩn Thị H. Tiến Hnh test nhanh qua nước tiểu xác định được cả 04 đối tượng đều dương tính với chất ma túy KET, MET, MDMA.

Tang vật thu giữ: 01 ống hút được quấn bằng 01 tờ tiền Ngân Hng NH nước V Nam mệnh giá 10.000 đồng; 01 đĩa sứ hình tròn, màu trắng; 01 thẻ nhựa mà đen có chữ CHANAL; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 đầu thu camera nhãn hiệu @ Jhua màu trắng, ký hiệu SIN 3A001F5PAEF6DU7; thu của Nguyễn Bá L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh, số Imei C6KZLDWVN73C; thu của Nguyễn Tiến N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số Imei 352115458657285, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng, số seri F2LX9KX8KPHF và 01 xe mô tô biển kiểm soát 98F1- 345.61; thu của PHn Thị N 01 điện thoại di động Iphone 6 plus màu hồng, seri C39QLAWJGRX5; thu của Tẩn Thị H 01 điện thoại di động Iphone 6S Plus màu hồng, seri C39RD41JGRX5.

Sau khi lập biên bản kiểm tra Hnh chính, cùng ngày, các đối tượng và toàn bộ tang vật được bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V Yên để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Bá L, Nguyễn Tiến N, PHn Thị N và Tẩn Thị H có đơn đầu thú về Hnh vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và khai nhận như sau:

Nguyễn Bá L và Nguyễn Tiến N là bạn cùng xã và chơi với nhau. Tối ngày 13/11/2022, N cùng L ngồi chơi, uống nước tại thị trấn Đồi Ngô, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, N rủ L đi tHnh phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang chơi; L hỏi N là “Đi chơi ke hả” thì N bảo “Ừ”. Sau đó, N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 98F1-345.61 chở L ngồi sau cùng đi đến xã Tăng Tiến, huyện V Yên, tỉnh Bắc Giang thuê phòng để sử dụng ma tuý. Trên đường đi L bàn với N về việc gọi thêm 2 nhân viên nữ đến quán phục vụ. Do có mối quan hệ quen biết ngoài xã hội với PHn Thị N từ trước nên L sử dụng nick name facebook “Nguyễn L” của L để nhắn tin qua messenger đến nick name facebook “Linh Em” của N, bảo N đi “bay” cùng với L (tức là đi sử dụng chất ma tuý) thì N đồng ý. L bảo N xem còn có ai nữa rủ thêm 01 người đi cùng và bảo N đến quán Karaoke Bambi để đặt phòng trước giúp L thì N đồng ý. Sau đó, N bảo Tẩn Thị H là bạn ở cùng phòng trọ với N để rủ H đi “bay” (đi sử dụng ma túy) cùng N. Rồi N cùng với H đến quán karaoke Bambi, N vào quầy lễ tân gặp chị Thân Thị H để đặt phòng và ngồi tại quầy lễ tân chờ L đến.

Về phía L, sau khi hẹn N đi sử dụng ma túy xong, N và L đi đến gần cây xăng xã Tăng Tiến, huyện V Yên, tỉnh Bắc Giang; L sử dụng số điện thoại 0857.360.531 của L để gọi đến số điện thoại 0879.834.058 (được L lưu trong danh bạ điện thoại “Hoàng Bg”), theo L khai, số tiện thoại này L lấy từ nick name facebook “V Hoàng” để hỏi mua 03 viên ma túy “kẹo” và 01 chỉ ma túy Ketamine của người nam thanh niên (L khai không biết tên, tuổi và địa chỉ cụ thể của người này) thì được người này đồng ý và yêu cầu L chuyển khoản số tiền 3.100.000 đồng qua tài khoản ngân Hng. Sau khi trao đổi mua bán ma túy xong, L nói với N về việc người thanh niên yêu cầu L chuyển khoản trước tiền ma túy thì N bảo L cứ ứng tiền ra trả trước, sau đó hết tổng bao nhiêu tiền thì N sẽ chịu một nửa chi phí. Do vậy, L lấy điện thoại của L, mở ứng dụng Internet Banking để chuyển số tiền 3.100.000 đồng từ tài khoản 108805838699 của L mở tại Ngân Hng Viettinbank đến số tài khoản 9719992002 của Ngân Hng MB Bank cho người thanh niên để mua ma túy. Người thanh niên hẹn L sẽ giao ma túy cho L tại cầu vượt Khu công nghiệp Đình Trám, huyện V Yên và bảo L đợi tại đó. Sau đó, L thấy có 02 nam thanh niên đi xe mô tô, đeo khẩu trang đến và đứng cách vị trí L, N khoảng 10 mét, biết hai người này đến giao ma túy cho mình nên L đi đến để lấy ma túy. Nhận ma túy xong L cất giấu vào trong người, L và N tiếp tục đi đến quán Karaoke Bambi thì đã thấy N và H đang chờ. Sau đó, L, N, N và H cùng đi vào phòng Vip 1 của quán để hát karaoke. Khoảng 15 phút sau, L lấy ma tuý từ trong người ra, L bỏ ma túy “kẹo” ra trước rồi đưa 01 viên (loại viên nén màu xanh) cho N, 01 viên ma túy kẹo L bẻ ra tHnh 02 phần và đưa cho N. N nhận 02 phần ma túy L đưa rồi đưa 01 phần cho H để H sử dụng còn 01 phần N giữ lại và sử dụng ma tuý “kẹo” bằng cách uống với nước. Sau khi dùng ma túy “kẹo” xong, L bảo N đi lấy đĩa sứ để xào ma tuý Ketamine thì N đồng ý. N đi ra khỏi phòng rồi vào bếp của quán lấy 01 đĩa sứ mang vào phòng hát đưa cho H và N tiếp tục quay ra quầy lễ tân lấy giấy lau, kẹo cao su và bật lửa mang vào phòng. Khi thấy N đi vào phòng hát và chuẩn bị “xào ke”. Lúc này, H cho rằng N không biết “xào ke” nên H đã bảo N là “để tao xào cho”. Lúc này, N lấy giấy lau, dùng bật lửa đốt giấy để hơ nóng đĩa rồi đưa đĩa cho H, H cầm đĩa đã được N hơ nóng, đổ ma túy Ketamine ra đĩa để “xào”. Tuy nhiên, do chưa có thẻ nhựa cứng nên N quay ra hỏi L để lấy thẻ xào ke, L đưa 01 thẻ nhựa cứng cho N, N cầm thẻ nhựa đưa cho H để H “xào ke”. Sau khi H “xào ke” xong, L tiếp tục đưa cho N 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, N lại đưa tờ tiền cho H để H quấn tròn lại tHnh hình ống hút (tẩu) được cố định bằng vỏ đầu lọc thuốc lá. Khi đã chuẩn bị xong các vật dụng như trên, H đưa đĩa chứa chất ma tuý Ketamine đã “xào” cho lần lượt L, N, N, H sử dụng. L, N, N, H cùng nhau sử dụng hết số chất ma tuý trên rồi cùng nhau nghe nhạc. Đến khoảng 02 giờ ngày 14/11/2022, lực lượng Công an phát hiện, kiểm tra lập biên bản và thu giữ toàn bộ tang vật.

Trong ngày 14/11/2022 và ngày 15/11/2022, Cơ quan điều tra tiến Hnh lập biên bản kiểm tra điện thoại thu giữ của Nguyễn Bá L, Nguyễn Tiến N, PHn Thị N và Tẩn Thị H. Kết quả trên điện thoại thu giữ của Nguyễn Bá L có thể hiện liên lạc với PHn Thị N để bảo N đặt phòng, gọi người và đi sử dụng ma túy cùng L, thể hiện việc liên lạc mua chất ma túy (cuộc gọi điện thoại, chuyển khoản ngân Hng). Trên điện thoại thu giữ của N không thể hiện việc liên lạc với L và H về việc đi sử dụng ma túy vì sau khi nói chuyện xong N đã xóa tin nhắn. Trên điện thoại của H thể hiện có liên lạc với N để cùng nhau đi sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngày 24/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V Yên đã trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang tiến Hnh giám định chất ma túy thu giữ trên các đồ vật liên quan thu giữ tại phòng Vip 1 của quán karaoke Bambi.

Tại bản kết luận giám định số 2220/KL-KTHS ngày 02/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

Trong 01 (một) hộp bìa cát tông đã được niêm phong gửi giám định:

- Chất tinh thể màu trắng bám dính trên 01 (một) đĩa sứ hình tròn, màu trắng là ma tuý, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.

- Trên 01 (một) thẻ bằng nhựa màu đen có chữ CHANAL có chất ma tuý Ketamine bám dính, không xác định được khối lượng mẫu.

- Trong 01 (một) ống hút, được quấn bằng 01 (một) tờ tiền Ngân Hng NH nước V Nam mệnh giá 10.000đ (Mười nghìn đồng) có chất ma tuý Ketamine bám dính, không xác định được khối lượng mẫu.

- Trên 01 (một) bật lửa ga màu đỏ không tìm chất ma tuý bám dính.

Ngày 02/02/2023, Cơ quan điều tra lập biên bản kiểm tra hình ảnh trong đầu thu camera thu giữ tại quán Bambi. Kết quả thu được hình ảnh PHn Thị N và Tẩn Thị H đến quán vào hồi 00 giờ 45 phút ngày 14/11/2022; Nguyễn Bá L và Nguyễn Tiến N đến quán vào hồi 01 giờ ngày 14/11/2022. Sau đó, L, N, N và H cùng vào phòng hát Vip 1 hồi 01 giờ 01 phút ngày 14/11/2022.

Tại Bản cáo trạng số 70/CT-VKS ngày 25/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V Yên truy tố các bị cáo Nguyễn Tiến N, Nguyễn Bá L, PHn Thị N, Tẩn Thị H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát giữ N quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá L từ 02 năm 3 tháng tù đến 02 năm 5 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/11/2022.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến N từ 02 năm 02 tháng tù đến 02 năm 4 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/11/2022.

Xử phạt bị cáo PHn Thị N từ 02 năm 01 tháng tù đến 02 năm 3 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/11/2022.

Xử phạt bị cáo Tẩn Thị H từ 02 năm tù đến 02 năm 02 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/11/2022.

Về vật chứng, án phí đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

* Tại cơ quan điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay, các bị cáo N, L, N, H đã khai nhận rõ Hnh vi của mình như cáo trạng đã nêu, các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt hình phạt thấp nhất cho các bị cáo.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Bá Đ trình bày: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 98F1-345.61 là của anh, bị cáo N mượn xe của anh để đi ăn cỗ, N sử dụng xe đi thực hiện Hnh vi phạm tội anh không biết. Tại phiên tòa anh đề nghị xin lại chiếc xe trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng. Do đó, các Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, tại giai đoạn điều tra đã có lời khai nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên là phù hợp với quy định tại Điều 292 và Điều 305 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tội danh: Lời khai của các bị cáo N, L, N, H tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản người phạm tội đầu thú, vật chứng thu giữ và kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 02 giờ 45 phút ngày 14/11/2022, tại phòng Vip 1 của quán karaoke Bambi thuộc thôn Chùa, xã Tăng Tiến, huyện V Yên, tỉnh Bắc Giang; Đội Cảnh sát Quản lý Hnh chính về trật tự xã hội- Công an huyện V Yên tiến Hnh kiểm tra quán karaoke Bambi phát hiện 04 đối tượng có Hnh vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể: Nguyễn Bá L và Nguyễn Tiến N cùng thống nhất mua 03 viên ma túy “kẹo” và 01 chỉ ma túy ke (ketamine) rồi gọi 02 nhân viên nữ đến quán Karaoke Bambi thuê phòng để sử dụng ma túy. Sau đó, L liên lạc với PHn Thị N để bảo N gọi thêm một nhân viên nữa cho L đồng thời bảo N đến quán Bambi đặt phòng trước giúp L. Liên lạc với L xong, N bảo Tẩn Thị H đi cùng N để sử dụng ma túy rồi N và H đi đến quán Bambi đặt phòng trước. Khi L và N đến thì L, N, N và H đi vào phòng Vip 1 cùng nhau sử dụng ma túy. Trước khi các đối tượng sử dụng ma túy ketamine thì N đã hơ nóng đĩa sứ rồi đưa cho H để H trực tiếp “xào ke” cho cả nhóm sử dụng.

Với Hnh vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Tiến N, Nguyễn Bá L, PHn Thị N, Tẩn Thị H đã đủ yếu tố cấu tHnh tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V Yên truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về vai trò, tính chất, mức độ Hnh vi phạm tội:

Trong vụ án này các bị cáo đồng phạm giản đơn, ngoài bản thân các bị cáo không có người khác sử dụng ma túy nên các bị cáo đồng phạm về Hnh vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo L và N là người khởi xướng và cùng thống nhất thực hiện Hnh vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thống nhất mua ma túy, thuê phòng, gọi nhân viên sau đó cùng chia nhau chi phí. Bị cáo L là người trực tiếp gọi nhân viên N, trực tiếp liên hệ để mua ma túy nên L có vai trò cao hơn N. Tiếp đến vai trò của bị cáo N, H thực heienj với vai trò giúp sức cho L, N trong việc sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo N là người trực tiếp đặt phòng cho L, trực tiếp liên hệ để gọi H đi sử dụng ma túy, trực tiếp lấy đĩa, đốt hơ nóng đĩa rồi đưa cho H xào ke, còn H sau khi được N đưa đĩa đã hơ nóng sẵn đã đổ Ketamine ra đĩa để xào, quẩn tẩu bằng tờ tiền làm tHnh ống hút và chia Ketamine cho mọi người sử dụng nên N có vai trò tích cực và cao hơn H.

Hnh vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến việc độc quyền quản lý các chất ma tuý của NH nước. Hnh vi của các bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương và sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng không tốt đến trật tự gia đình và xã hội và là N nhân làm phát sinh một số tội phạm nguy hiểm khác, là con đường lây lan của một số căn bệnh xã hội nguy hiểm cho bản thân các bị cáo và xã hội. Vì vậy, vụ án cần phải được xử lý tương xứng với tính chất và mức độ Hnh vi phạm tội của các bị cáo để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với các loại tội phạm trên.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

Tại cơ quan điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay các bị cáo có thái độ khai báo tHnh khẩn, các bị cáo nhận thức việc làm của mình là sai, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đều ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.

Xét các nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:

Về nhân thân: Các bị cáo N, L, N, H đều có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo N, L, N, H không có.

Từ những phân tích trên, đánh giá về nhân thân, vai trò, tính chất, mức độ nguy hiểm của Hnh vi phạm tội của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy:

Các bị cáo khi phạm tội đều đã tHnh niên, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và phạm tội thuộc trường hợp có tính chất nghiêm trọng nên cần buộc các bị cáo phải chấp Hnh hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo với xã hội trong một thời gian mới có tác dụng giáo dục các bị cáo trở tHnh người công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng, không có tính chất vụ lợi, bị cáo N, H là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo nên xét thấy không cần thiết phải phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị thể hiện sự Kn hồng của pháp luật.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 đầu thu camera nhãn hiệu @ Jhua màu trắng đã qua sử dụng ký hiệu SIN 3A001F5PAEF6DU7 là tài sản hợp pháp của anh Lê Hồng V và chị Thân Thị H, không liên quan đến việc phạm tội. Ngày 17/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V Yên, tỉnh Bắc Giang đã lập biên bản trả lại cho anh V. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Đối với 01 ống hút được quấn bằng 01 tờ tiền Ngân Hng NH nước V Nam mệnh giá 10.000 đồng, công cụ dùng vào việc phạm tội, có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử thấy cần tịch thu sung ngân sách NH nước.

- Đối với 01 đĩa sứ hình tròn, màu trắng; 01 thẻ nhựa mà đen có chữ CHANAL; 01 bật lửa ga màu đỏ là các công cụ dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử thấy cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh lá, đã qua sử dụng, số Imei C6KZLDWVN73C của Nguyễn Bá L; 01 điện thoại di động Iphone 6 plus màu hồng đã qua sử dụng số seri C39QLAWJGRX5 của PHn Thị N; 01 điện thoại di động Iphone 6s plus màu hồng đã qua sử dụng số seri C39RD41JGRX5 của Tẩn Thị H là các đồ vật, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu sung ngân sách NH nước.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 352115458657285, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng đã qua sử dụng, số seri F2LX9KX8KPHF của Nguyễn Tiến N không liên quan đến việc phạm tội. Nên Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho bị cáo N nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi Hnh án.

- Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 98F1-345.61 là của anh Nguyễn Bá Đ-sinh năm 1998 ở thôn Tân THnh, xã Trường Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Ngày 13/11/2022, N hỏi mượn xe của anh Đ để đi ăn cỗ, việc N dùng chiếc xe để đi thực hiện Hnh vi phạm tội anh Đ không biết. Tại phiên tòa anh Đ đề nghị được xin lại chiếc xe trên nên Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho anh Đ.

Các vấn đề khác:

- Đối với số điện thoại 0879.834.058 L đã gọi điện để liên lạc mua chất ma túy; qua điều tra xác định được tên đăng ký chủ thuê bao của số điện thoại là chị Đinh Thị Thu N- sinh năm 1978, trú tại thôn An Phước, xã Cam THnh, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Tuy nhiên, chị N xác định chị không dùng số thuê bao này, chị cũng không sử dụng căn cước công dân để đăng ký số thuê bao như trên. Việc thông tin cá nhân của chị bị lộ lọt chị không biết và chị cũng không có mối quan hệ gì với Nguyễn Bá L.

- Đối với số tài khoản 9719992002 của Ngân Hng MB Bank L đã chuyển khoản tiền mua ma túy vào tối 13/11/2022 xác định được chủ tài khoản là Tạ V V- sinh năm 1999, trú tại thôn Yên Tập, xã Yên Lư, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định được V đã chuyển đến thôn Xào, xã Đa Phúc, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình sống cùng gia đình nH vợ từ khoảng giữa năm 2022. Số tài khoản Ngân Hng trên V tự lập thông qua ứng dụng online trên điện thoại nên sau khi chuyển đến sống cùng vợ tại tỉnh Hòa Bình, V đã cho một người bạn quen biết trên facebook (V không biết được tên và địa chỉ cụ thể của người này). V không quen biết và không liên quan gì đối với Nguyễn Bá L. Do đó, không xác định được đối tượng đã bán ma túy cho L. Cơ quan điều tra đã tách phần tài liệu liên quan để khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

- Đối với hai nam thanh niên đã giao ma tuý cho L và N tại khu vực cây xăng Đình Trám; quá trình điều tra bị cáo L khai do trời tối, hai nam thanh niên khi gặp L để giao ma túy đeo khẩu trang nên L không biết đặc điểm nhận dạng của hai nam thanh niên này. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.

- Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 98F1 - 345.61 tạm giữ của N, được xác định là tài sản của anh Nguyễn Bá Đ- sinh năm 1998 ở thôn Tân THnh, xã Trường Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Ngày 13/11/2022, N hỏi mượn xe của anh Đ để đi ăn cỗ, việc N dùng chiếc xe để đi thực hiện Hnh vi phạm tội anh Đ không biết. Do đó, Hnh vi của anh Đ không vi phạm pháp luật.

Về án phí:

Các bị cáo N, L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 21; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Các bị cáo N, H là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá L 02 (hai) năm 3 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/11/2022.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến N 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/11/2022.

- Xử phạt bị cáo PHn Thị N 02 (hai) năm 01 (một) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/11/2022.

- Xử phạt bị cáo Tẩn Thị H 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/11/2022.

[2] Về vật chứng: Căn cứ a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

* Tịch thu tiêu hủy:

- 01 đĩa sứ hình tròn, màu trắng;

- 01 thẻ nhựa mà đen có chữ CHANAL;

- 01 bật lửa ga màu đỏ

* Tịch thu sung vào ngân sách NH nước:

- 01 ống hút được quấn bằng 01 tờ tiền Ngân Hng NH nước V Nam mệnh giá 10.000 đồng.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh lá, đã qua sử dụng, số Imei C6KZLDWVN73C của Nguyễn Bá L;

- 01 điện thoại di động Iphone 6 plus màu hồng đã qua sử dụng số seri C39QLAWJGRX5 của PHn Thị N;

- 01 điện thoại di động Iphone 6s plus màu hồng đã qua sử dụng số seri C39RD41JGRX5 của Tẩn Thị H

* Trả lại:

- Trả lại bị cáo Nguyễn Tiến N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 352115458657285; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng đã qua sử dụng, số seri F2LX9KX8KPHF. Nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi Hnh án.

- Trả lại anh Nguyễn Bá Đ 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 98F1 - 345.61

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;

Các bị cáo N, L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo N, H được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi Hnh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi Hnh án dân sự thì người được thi Hnh án dân sự, người phải thi Hnh án dân sự có quyền thoả thuận thi Hnh án, quyền yêu cầu thi Hnh án, tự nguyện thi Hnh án hoặc bị cưỡng chế thi Hnh án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi Hnh án dân sự; thời hiệu thi Hnh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hnh án dân sự.

Cỡ chữ