- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị Chín - Nguyễn Đăng Đình tranh chấp đat đai - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Kh phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2020/HS-ST Ngày 29/10/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Đại
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Nhàn và Ông Nguyễn Tất Quang
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 91/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2020/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Đình Kh, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 07/8/1992; Giới tính: Nam;
: Xóm Yên Đông, xã Minh Sơn, huyện Đô Lương, Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ văn hóa: 8/12; con ông Nguyễn Đình Ngũ và Nguyễn Thị Hằng; Vợ Hoàng Thị Phương Trang (Đã ly hôn) và c 01 con, sinh năm 2014; Tiền sự: không
Tiền án:
+ Ngày 15/3/2018, bị toà án nhân dân huyện Đô Lương xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999 theo bản án số 11/2018/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 29/7/2018. Chưa thi hành việc bồi thường dân sự cho bị hại.
+ Ngày 28/3/2019, bị toà án nhân dân huyện Đô Lương xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại khoản 1 Điều 173 BLHS theo bản án số 25/2019/HS-ST. Đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 04/10/2019.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 8/9/2020 đến nay bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Công Tr, sinh năm 1957; địa chỉ: Xóm Văn Quang, xã M, huyện Đ, tỉnh N. Vắng mặt
- Người làm chứng:
+Nguyễn Văn Hùng, sinh năm 1979; Địa chỉ: Xóm V, xã M, huyện Đ, tỉnh N. Vắng mặt
+ Lê Văn M, sinh năm 1982; địa chỉ: Xóm V, xã M, huyện Đ, tỉnh N. Vắng mặt.
+ Nguyễn Công C, sinh năm 1979; địa chỉ: Xóm V, xã M, huyện , tỉnh N. Vắng mặt
+ Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1942; địa chỉ: Xóm V, xã M, huyện Đ, tỉnh N. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ ngày 03/9/2020, Nguyễn Đình Kh, sinh năm 1992, trú tại xóm Y, xã M, huyện Đ, tỉnh N, (đang có tiền án về tội trộm cắp tài sản) xảy ra mâu thuẫn với anh trai là Nguyễn Đình A, sinh năm 1991, trú tại xóm Y, xã M, huyện Đô, tỉnh N nên Khang tức giận bỏ nhà đi. Đến khoảng 9 giờ 30 phút, Khang đi bộ một mình đến khu vực xóm V, xã M, huyện Đ. Tại đây, Kh thấy nhà bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1942, (tên thường gọi là bà Nhâm) cửa cổng mở, giữa sân có nhiều bao lúa, xung quanh không có ai. Số lúa này là của ông Nguyễn Công Tr, sinh năm1957, trú tại xóm V, xã M, huyện Đ gửi nhờ ở sân nhà bà K. Do lúc này trên người không có tiền nên Khang liền nảy sinh ý định trộm lúa của nhà bà Kỳ để bán lấy tiền. Nghĩ vậy, Nguyễn Đình Kh đi vào giữa sân dùng hai tay bốc 01 (một) bao lúa lên vai phải vác đi ra cổng rẽ phải đi được khoảng 300m thì bị anh Lê Văn Minh, sinh năm 1982, trú tại xóm V, xã M, huyện Đ, tỉnh N đang lái xe chở đất ra sân bóng gần đó phát hiện và hô "Trộm lúa, trộm lúa…", đồng thời Lê Văn M chỉ tay về phía Nguyễn Đình Kh để mọi người biết. Lúc này, anh Nguyễn Công Cường, sinh năm 1979 và anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1979 đều trú tại xóm V, xã M, huyện Đ, tỉnh N đi làm về qua khu vực này nghe anh M hô hoán nên anh và anh H liền đuổi theo bắt giữ Nguyễn Đình Kh rồi gọi điện cho lực lượng Công an xã M đến lập biên bản sự việc đưa người và tang vật về trụ sở làm việc.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 30 ngày 11 tháng 09 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Đô Lương: 01 (một) bao bì màu trắng, bên ngoài có chữ “URE”, bên trong đựng lúa khang dân kích thước (83x56x30)cm, có khối lượng 34kg. Có mức giá: 255.000 đồng (hai trăm năm mươi năm nghìn đồng).
Về trách nhiệm dân sự:
+ Sau khi nhận lại tài sản bị mất, ông Nguyễn Công Tr không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự
Tại bản cáo trạng số 99/CT-VKS-ĐL ngày 16/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình Kh về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương giữ nguyên quyết định đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Kh phạm tội Trộm cắp tài sản
Áp dụng khoản 1 Điều 73; điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Kh từ 10 đến 12 tháng tù
Về án phí, vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Viện kiểm sát truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra công an huyện Đô Lương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đầy đủ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, những người làm chứng, vật chứng thu giữ được, kết luận định giá và các chứng cứ khác thu thập được có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 03/9/2020, tại gia đình bà Nguyễn Thị K ở xóm V, xã M, huyện Đ, Nguyễn Đình Kh đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sãn đã chiếm đoạt một bao lúa khang dân có khối lượng 34kg, trị giá là 255.000 đồng của ông Nguyễn Công Tr đang gửi nhờ tại sân của nhà bà Nguyễn Thị K xóm V, xã M, huyện Đ. Bản thân bị cáo Kh có hai tiền án về tội trộm cắp chưa được xóa án tích. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự cho nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương và gây hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có tiền án về tội trộm cắp tài sản, có đủ khả năng hiểu biết pháp luật và điều khiển hành vi của mình, nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình nhưng vẫn coi thường pháp luật thực hiện hành vi phạm tội gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần lên một mức án nghiêm và phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, bị cáo Kh đã có 02 tiền án cụ thể: năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Đô Lương xử phạt 08 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự và năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Đô Lương xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 04/10/2019 mặc dù đã được giáo dục cải tạo nhưng không lấy đó làm bài học để tu dương đạo đức phẩm chất mà tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật cần phải xử phạt nghiêm.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, mặt khác có ông nội, bà nội được tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo phần nào, thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không nghề nghiệp, thu nhập ổn định và không có tài sản, hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt tiền bổ sung cho bị cáo
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, ông Nguyễn Công Tr không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự. Vì vậy Hội đồng xét xử miễn xét.
Về vật chứng: 01 (một) bao bì màu trắng, bên ngoài có chữ “URE”, bên trong đựng lúa khang dân kích thước (83x56x30)cm, có khối lượng 34kg. Hiện đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Công Tr là theo đúng quy định của pháp luật. Nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Kh phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Kh 01 ( một ) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo ngày 08/9/2020.
2. Về trách nhiệm dân sự: Miễn xét
3. Về án phí: Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Đình Kh phải chịu 200.000 đ ( hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đực bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Đô Lương; - CQ điều tra Công an h. Đô Lương; - Chi Cục THADS huyện Đô Lương; - Bị cáo; - Bị hại - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Nguyễn Xuân Đại |