- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà Vũ Thị C khởi kiện ông Nguyễn Văn L tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản"
- Tòa quyết gì? 39, 147 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 95/2020/DS-ST Ngày: 29-7-2020 V/v tranh chấp về hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thanh Sang;
2. Bà Nguyễn Thị Bích Liễu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ
Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham
gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang, Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ
Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 188/2020/TLST-DS ngày 23
tháng 4 năm 2020 về tranh chấp về hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số 228/2020/QĐXX-ST ngày 08 tháng 6 năm 2020, giữa các đương
sự:
1. Nguyên đơn: Bà Vũ Thị C, sinh năm 1976; địa chỉ cư trú: ấp L, xã L,
huyện C, tỉnh An Giang; có mặt;
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1986; địa chỉ cư trú: ấp L, xã L,
huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
3. Người làm chứng:
3.1 Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1960; địa chỉ cư trú: ấp L, xã L,
huyện C, tỉnh An Giang; có mặt;
3.2 Bà Trương Thị H, sinh năm 1963; địa chỉ cư trú: ấp L, xã L, huyện C,
tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, ản tự khai và các văn ản có trong hồ sơ vụ án
nguyên đơn trình ày như sau: Vào ngày 03/02/2019 ông Nguyễn Văn L có đến nhà vay số tiền 50.000.000đồng để làm ruộng, trả tiền làm đất, có thế chấp 02 giấy quyền sử dụng đất tờ số 18, thửa đất số 112, diện tích 75m2 và thửa đất số 110, tờ ản đồ số 18, diện tích 75m2, đất tọa lạc ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang, do sở tài nguyên và môi trường An Giang cấp ngày 28/12/2018. Khi vay ông L hẹn 03 tháng sẽ trả tiền vay và đóng lãi, nếu không thực hiện thì ông L sẽ chuyển quyền sử dụng đất cho à, nhưng đến nay đã quá hạn mà ông L không thực hiện. Nay khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn L trả số tiền vay là 50.000.000đồng và yêu cầu tính lãi từ ngày 03/02/2019 đến khi xét xử.
Ông Nguyễn Văn L đã được tống đạt Thông áo thụ lý vụ án, Thông áo
về phiên hòa giải nhưng không gửi văn ản ghi ý kiến về các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát iểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 298, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự và Điều 12 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006, đề nghị: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của à Vũ Thị C; uộc ông Nguyễn Văn L trả à Vũ Thị C số tiền 50.000.000đồng và tính lãi suất theo quy định pháp luật kể từ ngày 03/02/2019 đến khi xét xử sơ thẩm; Buộc à Vũ Thị C có nghĩa vụ trả lại 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS01443 và số CS01445 cùng ngày 28/12/2018 cho ông Nguyễn Văn L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Vũ Thị C khởi kiện ông Nguyễn Văn L tranh
chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản. Ông L có địa chỉ cư trú trên địa àn huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Căn cứ các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết là đúng theo quy định.
Về nội dung:
Bà Vũ Thị C khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn L trả số tiền vay là
50.000.000đồng, căn cứ khởi kiện là giấy iên nhận ghi ngày 03/02/2019. Quá trình giải quyết ông L không gửi ý kiến cho Tòa án về việc thụ lý vụ án. Xét thấy hợp đồng vay tiền được giao kết giữa à C và ông L là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015. Do ông L không thực hiện nghĩa vụ
trả tiền là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của ên vay quy định tại Điều 466 Bộ luật
Dân sự 2015 nên yêu cầu khởi kiện của à C là có căn cứ và được chấp nhận.
Về tiền lãi: Nguyên đơn xác định cho vay thời hạn 03 tháng với mức
lãi suất 4%/tháng, trong quá trình giải quyết, ông Nguyễn Văn L1, à Trương
Thị H là cha mẹ của ông Nguyễn Văn L cung cấp thông tin “đối với các thông
áo và văn ản tòa án gửi chúng tôi đã nhận thay cho L và có thông tin ằng
điện thoại cho L iết về việc ị à C kiện đòi số tiền vay là 50.000.000đồng;
chúng tôi nghe con nói là vay tiền của à C mức lãi 4% (1.000.000đồng phải trả
40.000đồng trên tháng); L cho iết là vay tiền để làm ăn mua án nhưng ị thất
ại”. Hội đồng xét xử căn cứ giấy iên nhận ghi ngày 03/02/2019, tại phần lãi
ghi màu mực nhạt hơn nhưng phù hợp với lời khai của người làm chứng nên có
cơ sở xác định giao dịch giữa các đương sự là hợp đồng vay có lãi nhưng mức
lãi suất là cao hơn so với quy định pháp luật, căn cứ quy định tại Điều 468 Bộ
luật dân sự, tiền lãi được tính như sau: Từ ngày 03/02/2019 đến ngày 29/7/2020
là 542 ngày, tiền lãi được tính là: 50.000.000đồng x (20%/năm) (20/100/365) x
542 ngày = 14.849.000đồng.
Theo văn ản “Biên nhận” ngày 03/02/2019 à C nhận giữ 02 giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn L, theo quy định pháp luật
xác định đây là việc thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS01443
ngày 28/12/2018 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS01445 ngày
28/12/2018 do Sở Tài nguyên và môi trường An Giang cấp cho ông Nguyễn
Văn L. Hội đồng xét xử thấy rằng: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được
giao kết giữa các ên không tuân thủ theo quy định tại khoản 3 Điều 167 Luật
Đất đai và Điều 298 Bộ luật Dân sự nên Tòa án cần tuyên giao dịch vô hiệu và
các ên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận theo quy định tại khoản 2 Điều
131 Bộ luật Dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, theo yêu cầu của à Vũ Thị C Tòa án
đã áp dụng iện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 11 Điều 114 và Điều
126 Bộ luật tố tụng dân sự: Phong tỏa tài sản của ông Nguyễn Văn L là quyền
sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS01443, được Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh An Giang cấp ngày 28/12/2018, tờ ản đồ số 18,
thửa đất số 112, diện tích 75m2, mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn, đất tọa
lạc xã Long Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang và quyền sử dụng đất theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS01445, được Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh An Giang cấp ngày 28/12/2018, tờ ản đồ số 18, thửa đất số 110,
diện tích 75m2, mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn, đất tọa lạc xã Long Điền
B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Hiện tại, Tòa án xác định ông L có nghĩa vụ
trả tiền, nhằm đảm ảo việc thi hành án nên Hội đồng xét xử tiếp tục duy trì iện
pháp khẩn cấp tạm thời này.
Đối với số tài sản à Vũ Thị C phải gửi tài sản ảo đảm có giá trị là
7.000.000đồng vào tài khoản phong tỏa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Do yêu cầu khởi kiện của à C được Tòa án chấp nhận nên à C được nhận lại số tiền đã nộp ảo đảm.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Các Điều 298, 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự; Các Điều 26, 35,
39, 147 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn à Vũ Thị C và xử
như sau:
1) Buộc ông Nguyễn Văn L có nghĩa vụ trả cho à Vũ Thị C số tiền vay là
50.000.000đồng (Bằng chữ: Năm mươi triệu đồng) và tiền lãi 14.849.000đồng (Bằng chữ: Mười ốn triệu tám trăm ốn mươi chín nghìn đồng).
2) Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án
xong, ên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3) Tuyên ố hợp đồng thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa
ông Nguyễn Văn L với à Vũ Thị C là vô hiệu; Buộc à Vũ Thị C giao trả cho ông Nguyễn Văn L Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS01443 ngày 28/12/2018 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS01445 ngày 28/12/2018 do Sở Tài nguyên và môi trường An Giang cấp cho ông Nguyễn Văn L.
4) Về án phí: ông Nguyễn Văn L phải chịu án phí dân sự là
3.242.000đồng (Bằng chữ: Ba triệu hai trăm bốn mươi hai nghìn đồng); Bà Vũ Thị C được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.250.000đồng (Bằng chữ: Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo iên lai số 0008527 ngày 23/4/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
5) Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự
có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn 15 ngày kể từ ngày ản án được giao hoặc được niêm yết.
6) Các vấn đề khác: Tiếp tục duy trì iện pháp khẩn cấp tạm thời theo
quyết định số 12/2020/QĐ-BPKCTT ngày 08 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới để đảm ảo việc thi hành án; Bà Vũ Thị C được nhận
lại số tiền 7.000.000đồng (Bằng chữ: Bảy triệu đồng) theo giấy nộp tiền ngày
07/5/2020 vào tài khoản phong tỏa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND H. Chợ Mới; - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS H. Chợ Mới; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hùng |