vanban.org

Bản án 95/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 24/07/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/07/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Xuân A, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Bị cáo Mai Xuân A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Xuân Hiếu - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Xuân A, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HOÀ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2017/HS-PT
Ngày: 24/7/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HOÀ

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đông

Các Thẩm phán:

Bà Lê Thúy Phượng

Ông Nguyễn Hồng Tuấn

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Đình Vân Hiền - Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Bai - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà mở phiên toà xét xử công khai phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 107/2017/HSPT ngày 14/6/2017, đối với bị cáo Mai Xuân A, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 93/2017/HSST ngày 15/5/2017 của Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Khánh Hòa.

Bị cáo có kháng cáo:

Mai Xuân A; sinh năm 1989; nơi ĐKNKTT: Tổ dân phố 04, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố 18, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; con ông Mai Văn D và bà Mai Thị Kim Đ; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/12/2016 đến ngày 23/12/2016; hiện bị cáo tại ngoại; có mặt.

NHẬN THẤY:

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B và bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Khánh Hòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 19/12/2016, Mai Xuân A lên tàu SE7 để từ Đà Nẵng đi thành phố Hồ Chí Minh vào trường ôn thi tốt nghiệp. Ngày 20/12/2016, A thức dậy đi dọc hành lang của tàu với mục đích xem ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi đến phòng đầu tiên của toa số 9, A phát hiện mọi người trong phòng đang ngủ nên đã đi vào lấy trộm 01 túi xách của anh E đang để trên gác hành lý. Sau đó A mang túi xách quay về phòng của mình ở toa số 8 kiểm tra thì thấy bên trong có 01 máy tính xách tay hiệu Macbook Pro A1398-EMC2512. A lấy máy tính bỏ vào ba lô của A, còn túi xách thì mang qua toa số 7 bỏ trên kệ hành lý. Sau khi trở về phòng mình, A phát hiện thấy anh Trần Đình Ê là người ở cùng phòng đang nằm ngủ. A mở ba lô của anh Ê lấy trộm 01 máy tính xách tay Macbook Air A1465-EMC2631 và đem cất giấu vào túi xách vừa trộm của anh E để ở toa số 7.

Khoảng 06 giờ 05 phút ngày 20/12/2016, khi tàu đến gần ga G, tỉnh Khánh Hòa, anh Ê phát hiện mình bị mất tài sản và nghi ngờ A lấy trộm nên đã cùng với anh Lê H là nhân viên bảo vệ tàu giữ A lại để kiểm tra hành lý và làm rõ sự việc. Quá trình làm việc, A không thừa nhận việc trộm cắp tài sản nên anh H và anh Ê đã giữ A lại. Đoàn tàu tiếp tục di chuyển, khi đến địa phận thành phố B, tỉnh Khánh Hòa thì A thừa nhận việc lấy trộm và chỉ nơi cất giấu. Sau đó tàu vào ga, anh Đoàn đã giao A cùng tang vật của vụ án cho Công an thành phố B, tỉnh Khánh Hòa.

Tại kết luận định giá tài sản số 433 ngày 23/12/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 máy tính xách tay hiệu Macbook Pro A1398-EMC2512 có giá trị 18.696.300 đồng; 01 máy tính hiệu Macbook Air A1465-EMC2631 có giá trị 19.192.000 đồng; tổng giá trị tài sản là 37.888.300 đồng. Các vật chứng đã trả lại cho chủ sở hữu.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 93/2017/HSST ngày 15/5/2017 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Khánh Hòa đã tuyên bố bị cáo Mai Xuân A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Mai Xuân A; xử phạt bị cáo Mai Xuân A 01 (một) năm tù; thời hạn tính phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 20/12/2016 đến ngày 23/12/2016.

Ngoài ra, cấp sơ thẩm còn quyết định về phần trách nhiệm dân sự, vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, người bị hại.

Ngày 15/5/2016, bị cáo Mai Xuân A có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên toà, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hoà thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên nội dung bản án hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và bị cáo;

XÉT THẤY:

Về thủ tục: Đơn kháng cáo của bị cáo còn trong hạn là hợp lệ.

Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Mai Xuân A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung của bản án sơ thẩm số 93/2017/HSST ngày 15/5/2017 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Khánh Hòa. Như vậy có đủ cơ sở kết luận cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Mai Xuân A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét đơn kháng cáo của bị cáo và đơn xin giảm nhẹ hình phạt của người bị hại, Hội đồng xét xử thấy rằng, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đã xem xét nhân thân của bị cáo để xét xử bị cáo 01 năm tù là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tuy nhiên không có cơ sở để chấp nhận giảm nhẹ cho bị cáo, cần giữ nguyên án sơ thẩm.

Về án phí phúc thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Xuân A, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Mai Xuân A; xử phạt bị cáo Mai Xuân A 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tính phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 20/12/2016 đến ngày 23/12/2016.

2. Về án phí: Bị cáo Mai Xuân A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ