vanban.org

Bản án 94/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 24/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bi cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y”.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn C 07 (Bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y”; thời hạn tù kể từ ngày bắt giữ (19/5/2022). Tuyên bố bi cáo Bùi Thành T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma t y”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, Bùi Thành T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội tổ chức sử dụ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bi cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2023/HS-ST
Ngày: 24/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Năm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lưu Xuân Giới

Bà Lê Thu Trà

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hùng - Thư ký tòa án nhân dân thị xã Đông Triều.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Công - Kiểm sát viên.

Ngày 24/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2023/HS-ST ngày 30/10/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2023/QĐXXST-HS ngày 17/10/2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 41/2023/QĐHPT ngày 31/10/2023 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo: Nguyễn Văn C - Tên gọi khác: không; sinh ngày: 12/10/1996 tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường tr : thôn H, xã HTT, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị H; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp ngày 19/5/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt tại phiên tòa.

2. Bị cáo: Bùi Thành T - Tên gọi khác: không; sinh ngày: 02/10/1992 tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường tr : khu Q, phường HQ, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc:Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Đức T và bà Bùi Thị N; có vợ là Đào Thu T; có một con sinh năm 2022; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: ngày 05/11/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Triều (nay là thị xã Đông Triều), tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 (Chín) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Ngày 02/05/2015, chấp hành xong bản án. Ngày 17/6/2014, bị Công an xã (nay là phường H), thị xã Đông Triều xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau”. Bị cáo bị bắt, giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 15/05/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đông Triều; có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Bùi Văn T1, sinh năm 1997; địa chỉ: thôn H, xã HTT, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

- Anh Trần Duy T2, sinh năm 1996; địa chỉ: thôn H, xã HTT, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

- Anh Trần Ngọc S, sinh năm 1996; địa chỉ: thôn H, xã HTT, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

- Anh Nguyễn Đình T2, sinh năm 2001; địa chỉ: thôn L, xã HTT, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

- Anh Nguyễn Tiến T3, sinh năm 1996; địa chỉ: thôn Đ, xã HTT, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

- Anh Nguyễn Thành H, sinh năm 2001; địa chỉ: thôn Đ, xã HTT, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

- Anh Lâm Duy H, sinh năm 2001; địa chỉ: thôn L, xã HTT, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Trung H1, sinh năm 2005; chị Đỗ Thị Q, sinh năm 2001; chị Hoàng Lệ Q, sinh năm 2001; địa chỉ: thôn C, xã HTT, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; có mặt tại phiên tòa.

- Anh Trần Trung Đ, sinh năm 2001; địa chỉ: thôn L, xã HTT, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.

- Chị Trần Huyền T, sinh năm 2001; địa chỉ: thôn H, xã HTT, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 40 ph t ngày 14/5/2022, do có nhu cầu sử dụng chất ma túy, Nguyễn Văn C nhắn tin cho bạn là anh Bùi Văn T1, sinh năm 1997, tr tại thôn Đ, xã HTT, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh bảo anh T1 đi mua hộ ma t y, loại Cần Sa để cùng sử dụng, đồng thời C nhờ anh T1 đến cổng nhà C lấy chiếc cối xay ma t y Cần Sa bằng kim loại, màu xám mà C cất giấu từ trước, thì anh T1 đồng ý. Theo đề nghị của C, anh T1 gọi điện thoại cho Bùi Thành T hỏi mua 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) ma t y, loại Cần Sa, T đồng ý và hẹn T1 đến cổng nhà T ở khu Q, phường HQ, thị xã Đông Triều để giao dịch mua bán ma t y. Thỏa thuận xong, anh T1 điều khiển xe mô tô đến cổng nhà T, cùng lúc này T cầm 01 (một) t i nilon kích thước (4x7)cm, bên trong chứa thực vật khô là ma t y, loại Cần Sa đi ra đưa cho anh T1 và thống nhất cho anh T1 nợ tiền mua ma túy. Ngay sau khi mua được ma t y, anh T1 điều khiển xe mô tô đến cổng nhà C lấy chiếc cối xay ma t y Cần Sa, màu xám rồi đi đến nơi làm việc phụ xây cho C ở thôn Vĩnh Thái, xã Hồng Thái Đông, thị xã Đông Triều để làm việc.

Khoảng 18 giờ cùng ngày, sau khi làm việc xong, anh T1 đưa t i thực vật khô là ma t y Cần Sa và chiếc cối xay cho C và đi về nhà. Lúc này, C bảo với anh T1 buổi tối đến nhà anh Nguyễn Văn H, sinh năm 2001, tr tại thôn Đ, xã HTT, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh ăn liên hoan. Sau đó, C cầm gói cần sa và chiếc cối đi về nhà tăm rửa thay quần áo để đi ăn liên hoan; anh T1 đi về nhà.

Tối cùng ngày (14/5/2022) anh Nguyễn Văn H tổ chức liên hoan tại nhà và có mời: Nguyễn Văn C; anh Trần Duy T2, sinh năm 1996; anh Trần Ngọc S, sinh năm 1996; chị Đỗ Thị Q, sinh năm 2001; chị Trần Huyền T, sinh năm 2001 (đều tr tại thôn H, xã HTT, thị xã Đông Triều); anh Nguyễn Tiến T3, sinh năm 1996; anh Nguyễn Trung H1, sinh năm 2005; anh Nguyễn Thành H, sinh năm 2001 (đều tr tại thôn Đ, xã HTT, thị xã Đông Triều); Anh Nguyễn Đình T2, sinh năm 2001; anh Lâm Duy H, sinh năm 2001; anh Trần Trung Đ, sinh năm 2001; chị Hoàng Lệ Q, sinh năm 2001 (đều tr tại xã HTT, thị xã Đông Triều) đến ăn cơm.

Khoảng 18 giờ cùng ngày, tại giường kê ở hiên của nhà anh Nguyễn Văn H có anh T2, anh H và anh Nguyễn Thành H cùng ngồi chơi, thì anh Nguyễn Văn H từ trong nhà đi ra, thấy chiếc cối xay ma t y Cần Sa bằng kim loại, đường kính 06cm, cao 3,6cm, màu vàng, bên trong chứa thực vật khô là ma t y Cần Sa của mình để trên mặt chiếu của giường (trước đó anh H để ở trong phòng ngủ không biết ai lấy ra) nên lấy một phần nhỏ ma t y Cần Sa từ trong chiếc cối này, rồi vo tròn cho vào lõ điếu cày châm lửa sử dụng bằng hình thức “h t”, sử dụng xong thì anh Nguyễn Văn H vào trong bếp nấu cơm. Trong l c ngồi chơi và nói chuyện với anh Nguyễn Văn H và anh H, anh Nguyễn Thành H có lấy một phần nhỏ thực vật khô là ma t y Cần Sa có trong chiếc cối xay màu vàng để sử dụng bằng hình thức h t.

Đối với Nguyễn Văn C, sau khi nhận được t i thực vật khô là ma t y Cần Sa và cối xay ma t y Cần sa màu xám do anh T1 đưa cho, C mang về nhà xay nhỏ toàn bộ số ma t y Cần Sa này. Khoảng 18 giờ 30 ph t cùng ngày, anh Nguyễn Văn H nhắn tin qua điện thoại di động bảo C đến sớm ăn liên hoan, C mang theo chiếc cối xay màu xám chứa số ma t y Cần Sa đã được xay nhỏ trước đó cất giấu vào t i quần. C không bàn bạc, không thông báo hoặc trao đổi gì với T1 về việc mang cối xay ma t y và ma t y đến nhà H. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Cường điều khiển xe mô tô chở anh Trần Duy T2, còn anh Trần Ngọc S một mình điều khiển xe mô tô, rồi cả ba cùng đến nhà anh Nguyễn Văn H. Khi đến nơi, C, anh S, anh H1, anh H, anh Nguyễn Văn H và anh Nguyễn Thành H ngồi chơi, nói chuyện tại vị trí chiếc giường kê ở hiên nhà, còn anh T2 đi vào trong nhà. Lúc này, C nhìn thấy chiếc cối xay ma t y Cần Sa bằng kim loại màu vàng của anh Nguyễn Văn H đang để trên giường, trong lòng cối có ma t y Cần sa nên C đã lấy một phần nhỏ vo tròn lại, cho vào nõ điếu cày sử dụng bằng hình thức “h t”, sử dụng xong C cùng anh T2 đi ra ngoài mua bia. Khoảng 20 ph t, sau khi mua bia về C bỏ chiếc cối xay ma t y bằng kim loại màu xám, bên trong chứa thức vật khô là ma t y Cần sa của C để trên mặt chiếu của chiếc giường kê ở hiên nhà anh Nguyễn Văn H với mục đích để ở đó, ai có nhu cầu thì tự lấy sử dụng rồi C đi vào trong nhà để chuẩn bị ăn cơm cùng mọi người. Sau đó, lần lượt anh H, anh S, anh T2, anh T3 trong quá trình ăn liên hoan có đi ra lấy một phần nhỏ ma t y Cần Sa từ trong lòng chiếc cối màu xám của C để sử dụng bằng hình thức h t. Khoảng 20 giờ cùng ngày, anh T1 điều khiển xe mô tô đến nhà anh Nguyễn Văn H thì thấy trên mặt chiếu của chiếc giường kê ở hiên ngồi chơi có chiếc cối xay bằng kim loại màu xám, bên trong chứa thực vật khô là ma t y Cần Sa. Anh T1 không biết ma t y Cần Sa là của ai nhưng vẫn lấy một phần nhỏ để sử dụng bằng hình thức vo tròn cho vào nõ điếu cày rồi châm lửa h t, sau đó anh Toàn đi vào ăn cơm cùng mọi người.

Trong l c đang ăn cơm, thì lần lượt anh Nguyễn Thành H đi ra giường lấy một phần nhỏ thực vật khô là ma t y loại Cần Sa trong chiếc cối xay ma t y màu vàng của Nguyễn Văn H và anh T2 lấy một phần nhỏ thực vật khô là ma t y Cần Sa trong chiếc cối xay ma t y màu xám của C sử dụng bằng hình thức h t. Sau khi tổ chức ăn cơm liên hoan xong tại nhà anh Nguyễn Văn H, thì C đi ra chiếc giường kê ở hiên lấy chiếc cối xay ma t y Cần Sa màu xám của C cất vào t i quần đang mặc, còn anh Nguyễn Văn H lấy chiếc cối xay ma t y Cần Sa màu vàng cất vào phòng ngủ. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, C cùng các anh T3, H1, T1, T2, H2, T4, S, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thành H, các chị Hoàng Lệ Q, Đỗ Thị Q cùng rủ nhau đến quán Karaoke HH của ông Hà Thế G, sinh năm 1962, quản lý thuộc thôn VT, xã HTĐ, thị xã Đông Triều thuê phòng Royal 5 để hát. Đến khoảng 23 giờ 45 ph t cùng ngày (14/5/2022), Công an thị xã Đông Triều kiểm tra hành chính phòng Royal 5, thấy trong phòng hát có 12 người (trong đó: Nam 10 người; Nữ: 02 người), đồng thời phát hiện C dùng tay lấy từ trong t i quần đang mặc ra 01 (một) chiếc cối xay ma t y bằng kim loại màu xám, trong lòng cối có chứa thực vật khô là ma t y Cần sa giấu vào trong lòng chiếc dép cạnh vị trí C ngồi, Cơ quan Công an thu giữ chiếc cối trên có kích thước đường kính 05cm, cao 04cm.

Căn cứ tài liệu điều tra, ngày 15/5/2022 Cơ quan điều tra Công an thị xã Đông Triều khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Thành T (là người bán ma t y Cần sa cho anh T1 trước đó), thu giữ vật chứng gồm: Tại tủ đựng quần áo kê sát tường phía Bắc trong phòng ngủ 01 (một) hộp giấy (bìa Catton) kích thước (30x12x9)cm bên trong có: 01 (một) t i nilon kích thước (11x7)cm, chứa thực vật khô. 04 (bốn) t i nilon cùng kích thước (11x7)cm, trong mỗi t i đều có 04 (bốn) t i nilon cùng kích thước (7x4)cm chứa thực vật khô. 01 (một) t i nilon kích thước (7x4)cm chứa thực vật khô. 01 (một) t i nilon kích thước (6x4)cm chứa thực vật khô; 01 (một) hộp giấy (bìa Catton), kích thước (23x23x6)cm bên trong có: 01 (một) t i nilon kích thước (7x4)cm có 01 (một) tờ tiền mệnh giá 1.000đ (một nghìn đồng) được gấp lại có chứa chất bột màu trắng. 01 (một) chiếc cân tiểu ly màu xám, kích thước (12x6,5x2)cm. 01 (một) chiếc hộp bằng kim loại hình trụ tròn đường kính 4cm, cao 3,8cm. 01 (một) t i nilon kích thước (25x17)cm, bên trong chứa 36 (ba mươi sáu) t i nilon cùng kích thước (07 x 04)cm đều chứa thực vật khô. 01 (một) t i nilon kích thước (25x17)cm, bên trong chứa 30 (ba mươi) t i nilon cùng kích thước (7x4)cm đều chứa thực vật khô; Trong ngăn tủ đựng quần áo kê sát tường phía Đông trong phòng ngủ: 01 (một) t i nilon kích thước (33x25)cm, bên trong chứa thực vật khô. 01 (một) t i nilon kích thước (25x17)cm, bên trong chứa 09 (chín) t i nilon cùng kích thước (11x07)cm đều chứa thực vật khô. 01 (một) t i nilon kích thước (25x17)cm, bên trong chứa 05 (năm) t i nilon cùng kích thước (11x7)cm đều chứa thực vật khô; Trong chiếc bình thủy tinh hình trụ tròn đường kính 10cm, cao 10cm để trong tủ quần áo kê sát tường phía Đông trong phòng ngủ 04 (bốn) t i nilon cùng kích thước (7x4)cm đều chứa thực vật khô; Trong chiếc t i xách màu nâu trên chiếc bàn kê sát tường phía Bắc trong phòng ngủ 02 (hai) t i nilon cùng kích thước (11x7)cm, trong mỗi t i đều chứa 04 (bốn) t i nilon cùng kích thước (7x4)cm chứa thực vật khô. 01 (một) t i nilon kích thước (11x6)cm, bên trong chứa 02 (hai) t i nilon cùng kích thước (7x4)cm đều chứa thực vật khô; Trong chiếc bình thủy tinh hình trụ tròn đường kính 11cm, cao 20cm để ở dưới chiếc bàn nhựa trong phòng ngủ 01 (một) t i nilon kích thước (25x17)cm, bên trong chứa 30 (ba mươi) t i nilon cùng kích thước (11x7)cm đều chứa thực vật khô. (ký hiệu M1-M145).

Kiểm tra xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Grand i10, màu trắng, biển kiểm soát 14A-405.74 ở nhà Bùi Thành T, thu trong hốc để đồ phía trước ghế phụ 01 (một) chai nhựa, đường kính miệng 04cm, cao 13cm, bên trong chứa 03 (ba) t i nilon cùng kích thước (11x7)cm, mỗi t i chứa 03 (ba) t i nilon cùng kích thước (7x4)cm, đều chứa thực vật khô. (ký hiệu M1-M9).

Căn cứ vào tài liệu điều tra, trong các ngày 15/5/2022 và 19/5/2022, Cơ quan điều tra bắt, giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Bùi Thành T và Nguyễn Văn C.

Tại các biên bản kiểm tra điện thoại do Cơ quan điều tra lập xác định: Chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A52 của Bùi Thành T thấy tại mục cuộc gọi đến l c 11 giờ 56 ph t ngày 14/5/2022 có cuộc gọi đến từ số điện thoại của anh Bùi Văn T1; điện thoại di động Iphone X của Nguyễn Văn C thấy tại ứng dụng Messenger Facebook có đoạn tin nhắn giữa tài khoản “Hứa Văn Cc” của Cc với tài khoản “Khói (pọp pọp)” của anh Bùi Văn T1 l c 11 giờ 41 ph t ngày 14/5/2022, nội dung Cc bảo anh T1 đi mua ma t y Cần Sa và bảo anh Toàn cầm cối xay ma t y Cần Sa cho C.

Tại Bản kết luận giám định số 799 ngày 19/5/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Thực vật khô (ký hiệu M1, M2, M3) của hộp kim loại hình trụ tròn, màu xám và trong 01 t i nilon kích thước (4x7,2)cm ghi thu giữ tại cơ sở kinh doanh HH ngày 14/5/2022 là ma t y, loại Cần sa, tổng khối lượng 0,578gam (không phẩy năm bảy tám gam).

Tại Bản kết luận giám định số 810 ngày 23/5/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Thực vật khô (ký hiệu từ M1 đến M9) trong 09 túi nilon cùng kích thước (4x7,5)cm ghi thu giữ trên xe ô tô biển kiểm soát 14A-405.74 của Bùi Thành T ngày 15/5/2022 là ma t y, loại Cần sa, tổng khối lượng 13,042gam (Mười ba phảy không bốn hai gam).

Tại Bản kết luận giám định số 849 ngày 29/5/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất bột màu trắng (ký hiệu M1) gói trong tờ tiền Việt Nam loại 1000 đồng ghi thu tại chỗ ở của Bùi Thành T ngày 15/5/2022 là ma t y, loại Ketamine, khối lượng 0,377gam (không phẩy ba bảy bảy gam). Thực vật khô (ký hiệu từ M2 đến M145) trong 15(mười lăm) t i nilon kích thước (7x11,5)cm; 29 (hai chín) t i nilon kích thước (4x7,5)cm; 99 (chín chín) t i nilon kích thước (4x7)cm; 01(một) t i nilon kích thước (25x33) cm ghi thu tại chỗ ở của Bùi Thành T ngày 15/5/2022 là ma t y, loại Cần sa, tổng khối lượng 519,394gam (năm một chín phẩy ba chín bốn gam).

Tại Bản kết luận giám định số 851 ngày 29/5/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Tìm thấy chất ma t y, loại Cần Sa trong chiếc nõ gắn vào 01 điếu cày gửi giám định, dạng vết không xác định được khối lượng. Vụn thực vật khô trong tầng hai của hộp kim loại hình trụ tròn màu vàng là ma t y, loại Cần Sa, khối lượng 0,009gam (không phảy không không chín gam).

Tại Bản kết luận giám định số 210 ngày 19/5/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Trong các mẫu nước tiểu ghi tên Nguyễn Văn C, Lâm Duy H, Nguyễn Tiến T3, Bùi Văn T1, Nguyễn Thành H, Nguyễn Đình T, Trần Duy T2, Nguyễn Văn H và Trần Ngọc S gửi giám định đều tìm thấy chất 11-nor-delta9-tetrahydrocannabinol-9-cacboxylic acid, đây là sản phẩm chuyển hóa được tìm thấy khi con người sử dụng chất ma t y Cần sa và các chế phẩm từ Cần sa. Trong các mẫu nước tiểu của Đỗ Thị Q, Hoàng Lệ Q và Nguyễn Trung H1 không tìm thấy thành phần các chất ma t y và sản phẩm chuyển hóa của ma t y.

Tại phiên tòa, Nguyễn Văn C một lần nữa khẳng định bị cáo chính là người mua ma t y của T, T1 chỉ là người được bị cáo nhờ đi lấy ma t y gi p bị cáo, vì tiền để trả cho T là trách nhiệm của bị cáo và bị cáo sẽ trả sau. Khi mang cối xay màu Xám và ma t y đến nhà H bị cáo tự quyết định không phải trao đổi, thông báo với T1 vì đây là ma t y của bị cáo. Khi đến nhà H, bị cáo chỉ sử dụng ma t y cần sa một lần là ma t y trong chiếc cối vàng của H vì cối của H còn rất ít ma túy. Ma t y trong cối Xám mà bị cáo nhờ T1 mua hộ thì bị cáo chưa sử dụng. Khi bị cáo bỏ cối xay màu xám có chứa ma t y ra giường để mọi người sử dụng thì bị cáo có nói với ý là để mọi người tự do sử dụng nhưng bị cáo không nhớ cụ thể.

Bị cáo Bùi Thành T khẳng định đã bán chịu ma t y cần sa cho T1 với giá 300.000 đồng và bị cáo nghĩ T1 sẽ mua hộ ai đó nên sẽ lấy tiền sau. Về nguồn gốc số ma t y Cần sa bán cho Bùi Văn T1 và Nguyễn Văn C cùng số ma t y Cần Sa thu giữ tại nhà, Bùi Thành T khai mua của một người đàn ông không quen biết qua mạng xã hội Zalo vào ngày 12/5/2022 với giá 13.000.000 đồng, sau đó T mang về nhà chia ra thành nhiều t i nhỏ mục đích để bán kiếm lời, đây là lần đầu Thái bán ma t y Cần sa cho anh Bùi Văn T1. Đối với t i ma t y, loại Ketamine bị thu giữ T nhặt được tại khu vực phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, sau đó cất giấu với mục đích để bán.

Bùi Văn T1 khẳng định đã gi p Nguyễn Văn C mua chịu 300.000 đồng ma t y Cần sa của T; toàn bộ số ma t y lấy từ T cũng như cối xay màu xám T1 đã đưa cho C theo yêu cầu của C. T1 không biết C đã sử dụng cối xay ma t y và ma t y như thế nào. Tại nhà H, T1 có dùng ma t y cần sa nhưng không biết đấy là ma túy do C mang tới.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác cùng có lời khai phù hợp với lời khai của hai bị cáo và anh T1 tại phiên tòa.

Tại cáo trạng số 39/CT-VKSĐT ngày 26/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và bị cáo Bùi Thành T về tội “Mua bán trái phép chất ma t y”, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đại diện Viện Kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 07 (Bẩy) năm tù đến 07 (Bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y”, thời hạn tù kể từ ngày bắt giữ (19/5/2022).

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255;điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Thành T từ 30 (Ba mươi) tháng tù đến 36 (Ba sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma t y”; thời hạn tù kể từ ngày bắt giữ (15/5/2022).

Về vật chứng: căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

Tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 799/KL-KTHS ngày 19/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 810/KL-KTHS ngày 23/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 851/KL-KTHS ngày 29/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 hộp giấy niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định số 849/KL-KTHS ngày 29/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 điều cày bằng tre dài 0,65 mét, đường kính 0,05 mét, thân trên điếu có gắn một chiếc lõ điếu, đã qua sử dụng theo biên Bản kết luận giám định số 851/KL-KTHS ngày 29/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 cân tiểu ly màu xám, kích thước (12x6,5x0x2)cm dán tem đề kí hiệu QCPasss200g/0,01g; 01 (một) hộp kim loại hình trụ tròn đường kính 04cm, cao 3,8cm

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone X, màu trắng, gắn thẻ sim 0921124313, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A52, màu đen, đã qua sử dụng gắn sim số 0375.232.299; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu xám, đã qua sử dụng; 01 tờ tiền 1000 đồng trong phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 849/KL-KTHS ngày 29/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh

Thực hiện quyền tranh luận, hai bị cáo cùng thừa nhận luận tội của đại diện Viện kiểm sát là đ ng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không phát biểu tranh luận.

Thực hiện quyền nói lời sau cùng, hai bị cáo cùng nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố và xét xử đảm bảo đ ng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; không bị khiếu nại, tố cáo nên được Hội đồng xét xử đánh giá là hợp pháp.

Những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập cũng như do người tham gia tố tụng cung cấp bảo đảm đ ng quy định theo Bộ luật Tố tụng hình sự, được Hội đồng xét xử đánh giá là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo, đã xác định được như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 14/5/2022, tại khu vực cổng nhà Bùi Thành T thuộc khu Q, phường HQ, thị xã Đông Triều, Bùi Thành T có hành vi bán trái phép 01(một) t i ma t y, loại Cần Sa cho anh Bùi Văn T1 và Nguyễn Văn C với giá 300.000 đồng nhưng chưa thanh toán tiền. Theo yêu cầu của Nguyễn Văn C, T1 cầm t i ma t y Cần Sa và chiếc cối dùng xay ma t y, màu xám đưa cho Cường. Đến khoảng 19 giờ 30 ph t cùng ngày, tại nhà anh Nguyễn Văn H thuộc thôn Đ, xã HTT, thị xã Đông Triều, Nguyễn Văn C có hành vi cung cấp trái phép chất ma t y Cần Sa cho các anh Lâm Duy H, Trần Ngọc S, Nguyễn Tiến T3, Nguyễn Đình T, Trần Duy T2 và Bùi Văn T1 sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ, thu vật chứng.

Ngoài ra, Bùi Thành T còn có hành vi cất giấu tại nơi ở 0,377gam (không phẩy ba bảy bảy gam) ma t y, loại Ketamine và 532,436gam (năm trăm ba mươi hai phẩy bốn ba sáu gam) ma t y, loại Cần Sa, mục đích để bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện, thu giữ vật chứng.

Hành vi của Nguyễn Văn C cung cấp trái phép chất ma t y Cần Sa cho 06 người sử dụng gồm các anh Lâm Duy H, Trần Ngọc S, Nguyễn Tiến T3, Nguyễn Đình T, Trần Duy T2 và Bùi Văn T1 sử dụng là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma t y của nhà nước. Bị cáo là người thành niên, có đầy đủ khả năng nhận thức, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, đối chiếu với các yếu tố cấu thành tội phạm đủ căn cứ khẳng định Nguyễn Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của Bùi Thành T bán trái phép 01(một) t i ma t y, loại Cần Sa cho Nguyễn Văn C (và Bùi Văn T1) với giá 300.000 đồng để sử dụng là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma t y của nhà nước. Bị cáo Thái là người thành niên, có đầy đủ khả năng nhận thức, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, đối chiếu với các yếu tố cấu thành tội phạm đủ căn cứ khẳng định Bùi Thành T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma t y” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, Bùi Thành T còn có hành vi cất giấu tại nơi ở 0,377gam (không phẩy ba bảy bảy gam) ma t y, loại Ketamine và 532,436gam (năm trăm ba mươi hai phẩy bốn ba sáu gam) ma t y, loại Cần Sa, mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện, thu giữ vật chứng.

Hai bị cáo thực hiện hai hành vi độc lập nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm độc lập với hành vi của mình đã thực hiện.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều đề nghị kết tội hai bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị áp dụng điều luật cũng như mức hình phạt đối với hai bị cáo; Hội đồng xét xử đánh giá cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố hai bị cáo là đ ng người, đ ng tội, đ ng pháp luật; luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều là có căn cứ, đ ng pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận phân tích đánh giá trong luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Các bị cáo nhận tội; lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác như lời khai của người làm chứng, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; biên bản kiểm tra hành chính; kết luận giám định, sơ đồ, bản ảnh hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra; Biên bản nhận dạng và các tài liệu chứng cứ khác nên hai bị cáo đều được đánh giá là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Nguyễn Văn C và Bùi Thành T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đều có ông nội được tặng thưởng huân chương kháng chiến nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: không có.

Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma t y của nhà nước và gây mất an ninh trật tự nên cần phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình nghị án, Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để các bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của nhà nước và pháp luật.

Vật chứng vụ án:

Về vật chứng: căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 799/KL-KTHS ngày 19/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 810/KL-KTHS ngày 23/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 851/KL-KTHS ngày 29/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 hộp giấy niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định số 849/KL-KTHS ngày 29/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 điều cày bằng tre dài 0,65 mét, đường kính 0,05 mét, thân trên điếu có gắn một chiếc lõ điếu, đã qua sử dụng theo biên Bản kết luận giám định số 851/KL-KTHS ngày 29/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 cân tiểu ly màu xám, kích thước (12x6,5x0x2)cm dán tem đề kí hiệu QCPasss200g/0,01g; 01 (một) hộp kim loại hình trụ tròn đường kính 04cm, cao 3,8cm

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone X, màu trắng, gắn thẻ sim 0921124313, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A52, màu đen, đã qua sử dụng gắn sim số 0375.232.299; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu xám, đã qua sử dụng, qua kiểm tra và sạc pin điện thoại không hoạt động. 1000 đồng được niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 849/KL-KTHS ngày 29/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Triều và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều số 56 ngày 28/4/2023)

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng; khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự quy định người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng; xét thấy các bị cáo không có tài sản, công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng.

Đối với việc Bùi Thành T khai ngoài lần bán trái phép chất ma t y như trên, T còn nhiều lần bán trái phép chất ma t y cho nhiều người khác, tuy nhiên T không nhớ rõ cụ thể thời gian, địa điểm từng lần bán, bán cho ai, số tiền bán thu lợi từ việc bán ma t y. Vì vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với anh Bùi Văn T1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma t y loại Cần sa, khối lượng xác định được là 0,578gam (không phẩy năm bẩy tám gam) mua của Bùi Thành T, sau đó đưa cho Nguyễn Văn C mục đích để cả hai cùng sử dụng nhưng không xác định thười gian, địa điểm sử dụng. T1 không bàn bạc, thống nhất với Nguyễn Văn C về việc cho các đối tượng khác sử dụng trái phép chất ma t y, T1 không biết ma t y Cần sa T1 sử dụng tại nhà H là ma túy mà C đã nhờ T1 mua và C mang đến nhà Nguyễn Văn H vào ngày 14/5/2022. Do vậy, hành vi của Bùi Văn T1 không cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma t y” và T1 cũng không đồng phạm với Nguyễn Văn C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y”, Công an thị xã Đông Triều đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên không đề cập xử lý.

Đối với anh Nguyễn Văn H biết rõ và để cho các đối tượng khác sử dụng trái phép chất ma t y tại nhà mình, có dấu hiệu của tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma t y”, tuy nhiên ngày 19/5/2022 anh H đã tử vong nên không đề cập xử lý.

Đối với các anh Lâm Duy H, Nguyễn Tiến T3, Bùi Văn T1, Nguyễn Thành H, Nguyễn Đình T, Trần Duy T2 và Trần Ngọc S có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma t y”. Ngày 11/10/2022, Công an thị xã Đông Triều ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Về nguồn gốc số ma t y Cần Sa bán cho Bùi Văn T1 và số ma t y Cần Sa thu giữ tại nhà khi khám xét khẩn cấp, Bùi Thành T khai mua của một người đàn ông không quen biết qua mạng xã hội Zalo vào ngày 12/5/2022 với giá 13.000.000 đồng, sau đó T mang về nhà chia ra thành nhiều t i nhỏ bán để bán kiếm lời. Đối với t i ma t y, loại Ketamine bị thu giữ khi khám xét khẩn cấp là do T nhặt được tại khu vực phường Mạo Khê, sau đó cất giấu với mục đích để bán kiếm lời. Do không xác định được người bán ma túy cho T nên không đề cập xử lý.

Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Grand i10, màu trắng, biển kiểm soát 14A-405.74, quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Bùi Đức T4 (là bố đẻ của Bùi Thành T) mua, giao cho T đứng tên để lái tắcxi, ông T4 không biết T sử dụng xe để cất giấu ma t y. Ngày 30/8/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông T4. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết lại

Đối với 01 điện thoại Iphone X, màu trắng, gắn thẻ sim 0921124313, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A52, màu đen, đã qua sử dụng gắn sim số 0375.232.299; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu xám, đã qua sử dụng, qua kiểm tra và sạc pin điện thoại không hoạt động. 1000 đồng trong phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 849/KL-KTHS ngày 29/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh là vật chứng vụ án liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu trắng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 9S, màu xanh; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu đen; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro màu đen và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu vàng. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 11/10/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là các anh Trần Duy T2, Lâm Duy H, Trần Ngọc S Nguyễn Đình T, Nguyễn Tiến T3 Nguyễn Thành H, các chị Hoàng Lệ Q, Đỗ Thị Q và cháu Nguyễn Trung H1.

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong phạm vi và thời hạn luật định.

Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bi cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y”.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn C 07 (Bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y”; thời hạn tù kể từ ngày bắt giữ (19/5/2022).

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bi cáo Bùi Thành T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma t y”.

Xử phạt: bị cáo Bùi Thành T 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma t y”; thời hạn tù kể từ ngày bắt giữ (15/5/2022).

Về vật chứng:

Áp dụng: căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

Tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 799/KL-KTHS ngày 19/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 810/KL-KTHS ngày 23/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 851/KL-KTHS ngày 29/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 hộp giấy niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định số 849/KL-KTHS ngày 29/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 điều cày bằng tre dài 0,65mets, đường kính 0,05 mét, thân trên điếu có gắn một chiếc lõ điếu, đã qua sử dụng theo biên Bản kết luận giám định số 851/KL-KTHS ngày 29/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 cân tiểu ly màu xám, kích thước (12x6,5x0x2)cm dán tem đề kí hiệu QCPasss200g/0,01g; 01 (một) hộp kim loại hình trụ tròn đường kính 04cm, cao 3,8cm.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone X, màu trắng, gắn thẻ sim 0921124313, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A52, màu đen, đã qua sử dụng gắn sim số 0375.232.299; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu xám, đã qua sử dụng; 1000 đồng trong phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 849/KL-KTHS ngày 29/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh;

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận giữa cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự số 56 ngày 28/4/2023)

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Văn C và Bùi Thành T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1; 4 Điều 331; khoản 1 Điều 332; khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ