- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thị N phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Hoàng Thị N 08 (tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 3 năm 2022.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| `TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2022/HS-ST Ngày: 21-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Đoàn Hồng Hải
Bà Trần Nguyệt Mai
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thành – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đẩu- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 97/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 104/2022/HSST ngày 23 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Hoàng Thị N, sinh ngày 23 tháng 6 năm 1980 tại: Nam Định; giới tính: Nữ; Nơi thường trú: Ấp Đ, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh N; Chỗ ở: 316/21 đường V, phường X, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Buôn bán; Học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn T; con bà: Trần Thị N; Có chồng tên Nguyễn Lê Minh L; Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/3/2022 (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Thanh Tvà Lê Công M là bạn bè quen biết với nhau. Do muốn có tiền tiêu xài nên cùng bàn tính dùng nhà ở của M tại số 100/13 Hùng Vương, Phường 9, Quận 5 (nơi M thuê bán cơm) để tổ chức đánh bạc dưới hình thức lắc xí ngầu đổ tài xỉu ăn tiền nhằm thu lợi bất chính chia nhau tiêu xài. Nhằm thực hiện ý định trên T và M thuê Hà Kỳ V làm nhiệm vụ lắc xí ngầu (500.000 đồng/ngày), Nguyễn Công H làm nhiệm vụ chung tiền thắng thua (300.000 đồng/ngày), Võ Văn Q là người làm công cho M có nhiệm vụ giữ xe cho người đến đánh bạc và cảnh báo khi có Công an kiểm tra (150.000 đồng/ngày).
T và M thỏa thuận: T bỏ vốn để tổ chức lắc tài xỉu, nếu nhà cái lắc mà ăn thua bình thường thì T chịu. Nếu nhà cái lắc được “bão” (nghĩa là 03 số 1 hoặc 03 số 06) thì sẽ chia cho V và H mỗi người từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Số tiền còn lại T và M chia đôi.
Sòng bạc mỗi ngày hoạt động từ 11 giờ đến 18 giờ thì nghỉ. Từ trưa ngày 25/10/2013, V đem theo dụng cụ phục vụ cho việc lắc tài xỉu cùng với T, M và H tổ chức lắc tài xỉu ăn tiền tại gác lững nhà M tại số 100/13 Hùng Vương, Phường 9, Quận 5. Hàng ngày, có từ 20 đến 30 con bạc đến đây để đặt tài xỉu ăn tiền.
Nhà cái dùng 01 miếng bạt có kẽ sẵn các ô số, một bên đề tài, một bên đề xỉu, sau đó nhà cái dùng 01 đĩa bỏ 03 hột xí ngầu lên, dùng cái chung úp 03 hột xí ngầu lại rồi lắc, sau khi lắc xong để xuống bàn, các con bạc đặt tiền từ 20.000 đồng đến 1.000.000 đồng/ván vào các ô số tài xỉu tùy ý, khi đặt tiền xong nhà cái mở chung ra để tính điểm ăn thua với các con bạc như sau: Từ 10 điểm trở xuống là xỉu (người đặt xỉu thắng), từ 11 điểm trở lên là tài (người đặt tài thắng), trường hợp cã ba cục xí ngầu đều cùng một số (Bão) thì nhà cái thắng tuyệt đối.
Ngày 25/10/2013, sau khi đã trừ chi phí cho V, H và Q thì T lời được 3.300.000 đồng, M lời được 250.000 đồng. Ngày 27/10/2013, T lời được 4.300.000 đồng, M lời được 350.000 đồng.
Riêng ngày 28/10/2013, T đem theo số tiền 10.000.000 đồng cùng với M, V và H để tổ chức lắc tài xỉu cho khoảng gần 20 con bạc. Đến khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày, trong lúc các đối tượng đang đánh bạc thì Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội phối hợp với Công an Phường 9, Quận 5 kiểm tra số nhà 100/13 Hùng Vương, Phường 9, Quận 5 bắt quả tang các đối tượng trên cùng các con bạc, đưa những người liên quan và tang vật về Công an phường 9, Quận 5 lập hồ sơ xử lý.
Tại cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận như sau:
- Võ Thanh T và Lê Công M đều khai nhận hành vi phạm tội như trên. Khi công an đến bắt do M không có mặt tại sòng tài xỉu. Đến ngày 30/10/2013, M đến Công an Phường 9, Quận 5 để đầu thú.
- Hà Kỳ V khai nhận được T thuê đến nhà M tại số: 100/13 Hùng Vương, Phường 9, Quận 5 để lắc xí ngầu được 3 ngày và được T trả công 1.500.000 đồng và tiền thưởng “bão” từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng/ngày.
- Nguyễn Công H khai nhận được T thuê đến nhà M tại số: 100/13 Hùng Vương, Phường 9, Quận 5 phụ T chung chi tiền cho các con bạc được 03 ngày, T trả tiền công 900.000 đồng và tiền thưởng “Bão” từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng/ngày.
- Võ Văn Q khai được M thuê giữ xe cho quán cơm của gia đình M với mức lương 2.000.000 đồng/tháng. Ngoài ra, M còn kêu Q giữ xe cho các con bạc và cảnh giới lực lượng Công an kiểm tra. Mỗi ngày, Q được M trả công thêm số tiền 150.000 đồng. Tổng cộng 450.000 đồng. Riêng ngày 28/10/2013, khi lực lượng Công an đến kiểm tra thì Q phát hiện nhưng chưa kịp chạy vào báo tin.
- Phùng Nguyễn Quốc T1 khai nhận lúc 13 giờ 15 phút ngày 28/10/2013, T1 đem theo số tiền 1.450.000 đồng đến nhà 100/13 Hùng Vương, Phường 9, Quận 5 để đặt tài xỉu ăn tiền, mỗi ván đặt 50.000 đồng. Đến 14 giờ 20 phút cùng ngày thì bị bắt. Khi bị bắt, T1 thua 1.000.000 đồng, còn lại 450.000 đồng T1 dự định sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc.
- Nguyễn Hữu T2 khai nhận vào 13 giờ 00 phút ngày 28/10/2013, T2 đem theo số tiền 400.000 đồng đến số nhà 100/13 Hùng Vương, Phường 9, Quận 5 để đặt tài xỉu ăn tiền, mỗi ván đặt 20.000 đồng. Đến 14 giờ 20 phút cùng ngày thì bị bắt. Khi bị bắt, T2 đã bị thua 100.000 đồng, còn lại 300.000 đồng, T2 dự định dùng hết số tiền trên để đánh bạc.
- Nguyễn Thị Kim T3 khai nhận vào 13 giờ 40 phút ngày 28/10/2013, T3 đem theo số tiền 400.000 đồng đến số nhà 100/13 Hùng Vương, Phường 9, Quận 5 để đặt tài xỉu ăn tiền. Đến 14 giờ 20 phút cùng ngày thì bị bắt. Khi bị bắt, T3 đang hòa tiền, không ăn không thua, T3 đã vứt bỏ số tiền trên xuống chiếu bạc.
- Trần Thị Nhân T4 khai nhận vào 14 giờ 00 phút ngày 28/10/2013, T4 đem theo số tiền 630.000 đồng đến số nhà 100/13 Hùng Vương, Phường 9, Quận 5 để đặt tài xỉu ăn tiền, mỗi ván đặt 100.000 đồng đặt được 2 ván. Đến 14 giờ 20 phút cùng ngày thì bị bắt. Khi bị bắt, T4 bị thua 200.000 đồng còn lại 430.000 đồng, thảo dự định sử dụng hết số tiền trên để đánh bạc.
- Nguyễn Thị Phương L khai nhận vào 14 giờ 00 phút ngày 28/10/2013, Linh đem theo số tiền 500.000 đồng đến số nhà 100/13 Hùng Vương, Phường 9, Quận 5 để đặt tài xỉu ăn tiền, mỗi ván đặt 50.000 đồng. Đến 14 giờ 20 phút cùng ngày thì bị bắt. Khi bị bắt, L bị thua số tiền 100.000 đồng, còn lại 400.000 đồng đã vứt bỏ số tiền xuống chiếu bạc.
- Bùi Thị S khai nhận vào 14 giờ 00 phút ngày 28/10/2013, Sương đem theo số tiền 1.700.000 đồng đến số nhà 100/13 Hùng Vương, Phường 9, Quận 5 để đặt tài xỉu ăn tiền. Đến 14 giờ 20 phút cùng ngày thì bị bắt. Khi bị bắt, S bị thua 200.000 đồng, còn lại 1.500.000 đồng. S dự định sử dụng số tiền 500.000 đồng để đánh bạc,
- Hoàng Thị N khai nhận vào 14 giờ 00 phút ngày 28/10/2013, N đem theo số tiền 300.000 đồng đến số nhà 100/13 Hùng Vương, Phường 9, Quận 5 để đặt tài xỉu ăn tiền, mỗi ván đặt 100.000 đồng. Đến 14 giờ 20 phút cùng ngày thì bị bắt. Khi bị bắt, N đang hòa tiền, không ăn không thua, Ndự định sử dụng hết số tiền trên để đánh bạc.
- Đỗ Thị H khai nhận vào 13 giờ 30 phút ngày 28/10/2013, H đem theo số tiền 300.000 đồng đến số nhà 100/13 Hùng Vương, Phường 9, Quận 5 để đặt tài xỉu ăn tiền, mỗi ván đặt 200.000 đồng. Đến 14 giờ 20 phút cùng ngày thì bị bắt. Khi bị bắt, H bị thua hết 100.000 đồng, còn lại 200.000 đồng. H dự định sử dụng hết số tiền trên để đánh bạc.
- Nguyễn Thị G khai nhận vào 13 giờ 30 phút ngày 28/10/2013, G đem theo số tiền 285.000 đồng đến số nhà 100/13 Hùng Vương, Phường 9, Quận 5 để đặt tài xỉu ăn tiền. Đến 14 giờ 20 phút cùng ngày thì bị bắt. Khi bị bắt, G đã bị thua hết số tiền 270.000 đồng còn lại 15.000 đồng. G dự định sử dụng hết số tiền trên để đánh bạc.
- Nguyễn Thị H2 khai nhận vào 13 giờ 30 phút ngày 28/10/2013, Huệ đem theo số tiền 55.000 đồng đến số nhà 100/13 Hùng Vương, Phường 9, Quận 5 để đặt tài xỉu ăn tiền. Đến 14 giờ 20 phút cùng ngày thì bị bắt. Khi bị bắt, H2 bị thua hết số tiền 40.000 đồng còn 15.000 đồng. H2 dự định dùng hết số tiền đó để đánh bạc.
- Phún Phượng N2 khai nhận vào 14 giờ 00 phút ngày 28/10/2013, N2 đem theo số tiền 700.000 đồng đến số nhà 100/13 Hùng Vương, Phường 9, Quận 5 để đặt tài xỉu ăn tiền, mỗi ván đặt 30.000 đồng. Đến 14 giờ 20 phút cùng ngày thì bị bắt. Khi bị bắt,N2 hòa tiền, không ăn không thua, Nga dự định sử dụng hết số tiền trên để đánh bạc.
- Trần Thị P khai nhận vào 14 giờ 00 phút ngày 28/10/2013, Pđem theo số tiền 195.000 đồng đến số nhà 100/13 Hùng Vương, Phường 9, Quận 5 để đặt tài xỉu ăn tiền, mỗi ván đặt 50.000 đồng. Đến 14 giờ 20 phút cùng ngày thì bị bắt. Khi bị bắt, P đang hòa tiền, không ăn không thua, P dự định sử dụng hết số tiền trên để đánh bạc.
Ngày 12/9/2014 Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra xét xử đối với các bị cáo Võ Thanh T, Lê Công M, Hà Kỳ V, Nguyễn Công H, Võ Văn Q về tội “Tổ chức đánh bạc” theo Điều 249 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 và xét xử các bị cáo Nguyễn Thị G, Bùi Thị S, Trần Thị P, Nguyễn Hữu T2, Phùng Nguyễn Quốc T1, Nguyễn Thị Phương L, Trần Thị Nhân T4, Phún Phượng N2 và Nguyễn Thị Kim T3 về tội “Đánh bạc” theo Điều 248 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Ngày 20/01/2017, Đỗ Thị H và Nguyễn Thị H2 bị bắt theo Quyết định truy nã về tội Đánh bạc. Ngày 19/9/2017, Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra xét xử đối với các bị cáo Đỗ Thị H và Nguyễn Thị H2 về tội “Đánh bạc” theo Điều 248 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Ngày 30/3/2022, Hoàng Thị N bị bắt theo Quyết định truy nã. Tại Cơ quan điều tra Hoàng Thị N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của Ngân phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án Đánh bạc và Tổ chức đánh bạc nêu trên, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người chứng kiến, biết việc, vật chứng thu giữ cùng với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng thu giữ: Số tiền 26.815.000 đồng, trong đó có 22.260.000 đồng tiền Việt Nam (thu tại chiếu bạc) và 4.555.000 đồng (thu của các con bạc); 01 tấm bạt kẻ số 01 đến 06 và chữ tài, xỉu; 04 hột xí ngầu; 02 đĩa sứ; 01 chén sứ; 02 bàn cá ngựa; 01 bộ bài 52 lá; 01 cục nam châm; 20 phỉnh kim loại; 01 điện thoại di động Nokia 101 của Hà Kỳ V; 01 điện thoại di động Nokia 1280 của Nguyễn Công H; 01 điện thoại di động Nokia của Phùng Nguyễn Quốc T1; 01 điện thoại di động Mobile của Trần Thị Nhân T4; 01 điện thoại di động Nokia 2680 của Nguyễn Thị Phương L; 01 điện thoại di động Nokia 1202 của Phún Phượng N2; 01 điện thoại di động Nokia của Trần Thị P; 01 điện thoại di động Samsung GT-19100 của Nguyễn Hữu T2; 01 điện thoại di động Nokia 2300 của Nguyễn Thị H2; 01 điện thoại di động hiệu Samsung. Toàn bộ số vật chứng trên đã được giải quyết xong. Hiện đang còn tạm giữ 01 (một) điện thoại di động Avio của Hoàng Thị N.
Bản cáo trạng số: 58/CTr-VKS ngày 05/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Hoàng Thị N về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với Hoàng Thị N về tội “Đánh bạc”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 248, điểm p và h khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009) và điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị Quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Hoàng Thị N với mức án từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù. Về vật chứng đã được giải quyết tại Bản án sơ thẩm số 164/2014/HSST ngày 12/9/2014 và Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2017/HSST ngày 19/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh nên đề nghị không xem xét giải quyết. Riêng 01 (một) điện thoại di động hiệu AVIO màu trắng, số Imei: 352062030331171 là tài sản cá nhân của Hoàng Thị N, không liên quan đến việc phạm tội nên xem xét trả lại cho bị cáo Ngân.
Bị cáo không có ý kiến tự bào chữa, tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 5, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Qua thẩm tra xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Thị N đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của Võ Thanh T, Lê Công M, Hà Kỳ V, Nguyễn Công H, Võ Văn Q (là các đối tượng tổ chức đánh bạc), Nguyễn Thị G, Bùi Thị S, Trần Thị P, Nguyễn Hữu T2, Phùng Nguyễn Quốc T1, Nguyễn Thị Phương L, Trần Thị Nhân T4, Phún Phượng N2, Nguyễn Thị Kim T3, Đỗ Thị H và Nguyễn Thị H2 (là các đối tượng cùng tham gia đánh bạc với bị cáo). Đồng thời, lời khai của bị cáo cũng phù hợp với với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 28/10/2013, bị cáo Hoàng Thị N đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi tài xỉu ăn thua bằng tiền. Khi Công an kiểm tra đã bắt quả tang và thu giữ tổng số tiền mà bị cáo cùng với những đối tượng nêu trên dùng vào việc đánh bạc là 26.815.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo Hoàng Thị N đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009).
Do hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Thị N thực hiện vào ngày 28/10/2013 có đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009), có mức hình phạt từ 03 tháng đến 03 năm thấp hơn với mức hình phạt của tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) có khung hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm. Nên khi xét xử sẽ áp dụng các quy định của Bộ luật hình năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009) theo hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội để xét xử đối với bị cáo.
Đối với các quy định về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, căn cứ quyết định hình phạt và xử lý vật chứng thì áp dụng các quy định pháp luật hiện hành theo hướng có lợi cho bị cáo.
Xét bị cáo là người trưởng thành, có khả năng nhận thức hành vi phạm tội của mình, bị cáo biết rất rõ Nhà nước ta nghiêm cấm mọi hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc dưới nhiều hình thức nhưng vì hám lợi mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy, trong thời gian được tại ngoại bị cáo Hoàng Thị N đã bỏ đi khỏi địa phương, không trình báo cơ quan Công an và đã bị Cơ quan Công an ra quyết định truy nã. Vì vậy, cần buộc bị cáo Ngân phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo phạm tội nhằm mục đích hưởng lợi nhưng vì có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không xem xét áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Về xử lý vật chứng: Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu AVIO màu trắng, số Imei: 352062030331171 là tài sản cá nhân của bị cáo Hoàng Thị N, không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bị cáo Ngân.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009); điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm b Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.
Xử phạt bị cáo Hoàng Thị N 08 (tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 3 năm 2022.
Căn cứ điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Trả lại cho bị cáo Hoàng Thị N: 01 (một) điện thoại di động hiệu AVIO màu trắng, số Imei: 352062030331171.
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 50/14/NK ngày 22/4/2014 của Công an Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TpHCM; - Sở Tư pháp TpHCM; - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM; - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5; - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5; - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5; - Phòng PV 06 – Công an TPHCM; - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thanh Tiền |