vanban.org

Bản án 93/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 29/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang L và Nguyễn Viết T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết T 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm. Thời hạn thử thách tính … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang L, Nguyễn Viết T phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang L và Nguyễn Viết T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH TƯỜNG
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2021/HS-ST
Ngày 29 tháng 9 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Văn Thông

Ông Phan Duy Lục

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Oanh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường tham gia phiên toà: Ông Trần Chung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 90/2021/TLST - HS ngày 13 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2021/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 9 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Quang L, sinh ngày 25 tháng 5 năm 1952. Tại: Xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang H (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); có vợ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1952 và có 03 con: lớn sinh năm 1975; nhỏ nhất sinh năm 1981; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang tại ngoại bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

2. Nguyễn Viết T, sinh ngày 14 tháng 8 năm 1973. Tại: Xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết S (đã chết) và bà Bùi Thị L (đã chết); có vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1974 và có 02 con: Lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo đang tại ngoại bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

- Người bị hại: Ông Nguyễn Quang B, sinh năm 1957; Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Dương C, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn B, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do biết gia đình ông Nguyễn Quang B, sinh năm 1957 ở thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc thường xuyên không có ai ở nhà trông coi, quản lý tài sản vì hiện nay gia đình ông B đang tạm trú ở thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc nên Nguyễn Quang L, sinh năm 1952 ở thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (ở giáp nhà ông B) nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nhà ông B bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Ngày 10/5/2021 L đến nhà Nguyễn Viết T, sinh năm 1973, trú tại thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc rủ T cùng đi trộm cắp tài sản nhà ông B thì T đồng ý. Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 15/5/2021, sau khi thấy các gia đình trong xóm đã tắt điện đi ngủ L gọi điện thoại cho T hẹn T khoảng 00 giờ ngày 16/5/2021 sẽ cùng nhau đột nhập vào nhà ông B để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 00 giờ 05 phút cùng ngày 16/5/2021, L mang theo các công cụ để sử dụng vào việc trộm cắp là 01 chiếc xà cầy, 01 chiếc cưa, 01 đoạn sắt và 02 chiếc bao tải xác rắn trong đó 01 chiếc màu trắng xanh, 01 chiếc màu vàng, trèo qua tường bao loan ở phía sau bếp từ bên nhà L đến vị trí chiếc thang đang dựng ở đầu đốc bếp nhà ông B. L trèo xuống sân ở khu vực đầu đốc bếp nhà ông B và để các công cụ mang theo xuống sân đợi T đến. T đi từ nhà mình đến cổng nhà ông B rồi trèo qua tường bao loan ở đầu đốc bên phải nhà tiếp giáp với cổng theo hướng từ ngoài nhìn vào trong, rồi T đi đến vị trí L đang đứng đợi ở đầu đốc bếp. L đi đến hè bếp lấy 01 chiếc vỏ thùng sơn màu trắng đem đến để trên sân bên dưới cửa sổ buồng ngủ nhà ở của ông B nằm tiếp giáp đầu đốc bếp, L đứng lên thùng sơn này dùng xà cầy cạy nẹp bên ngoài của mép cánh cửa sổ Bằng gỗ, sau khi cạy được nẹp gỗ này, L mang chiếc nẹp gỗ để ở vị trí sau bếp nhà ông B. L tiếp tục dùng xà cầy chọc vào khe giữa hai cánh cửa sổ để cạy làm cho cánh cửa sổ bên phải bung ra rồi L, T dùng tay mở hai cánh cửa sổ này ra. Sau khi mở được cánh cửa sổ, L và T sử dụng cưa thay nhau cưa đứt phần dưới song cửa sổ bằng gỗ này và cả hai cùng nhau dùng tay bẻ gãy đầu còn lại của song cửa. Thấy không thể chui lọt qua song cửa vừa phá để vào bên trong nhà ông B nên L cầm theo 01 chiếc xà cầy đi đến cửa của gian cạnh bên phải nhà ông B theo hướng từ sân nhìn vào nhà và dùng xà cầy cạy bung nẹp cửa, T dùng tay hỗ trợ cạy bung nẹp mép cánh cửa bằng gỗ ra rồi để chiếc nẹp cửa gỗ này ở góc hè. L tiếp tục dùng xà cầy chọc vào khe giữa hai cánh cửa để cạy, T dùng tay trái vít mạnh tay nắm ổ khóa cửa làm cửa bung ra. L cất xà cầy ở góc hè bên trái rồi cả hai đi vào bên trong nhà ở của ông B. Khi vào bên trong nhà, L và T thấy 01 bộ bàn ghế trường kỷ bằng gỗ đinh kê ở phòng khách thẳng từ vị trí vừa phá cửa đi vào. L nhấc tấm kính ở mặt bàn ra và ôm đến vị trí cửa chính giữa rồi cùng T đặt tấm kính này xuống nền nhà tựa vào khuôn và cánh cửa. Sau đó, L và T đi đến khiêng lần lượt 01 chiếc bàn gỗ và 02 chiếc ghế gỗ trường kỷ ra để ở sân rồi L tiếp tục vào bên trong nhà ông B xem còn tài sản gì nữa không để trộm cắp tiếp còn T ra ngoài đầu đốc bếp nhà ông B lấy 02 bao tải xác rắn đem vào trong nhà để đựng tài sản trộm cắp được. L đi đến gian giữa nhà ông B nơi có án gian bằng gỗ để bàn thờ thì thấy trên mặt án gian có 01 chiếc lư hương bằng đồng (gồm các bộ phận: chân, thân và nắp) nên L trộm cắp chiếc lư hương này đúc vào trong 02 chiếc bao tải T cầm vào. L và T đem 02 bao tải đựng các bộ phận của chiếc lư hương trộm cắp được ra ngoài sân đi đến khu vực đầu đốc bếp nhà ông B rồi L trèo lên thang đặt 02 bao tải nêu trên lên tường bao loan. T cầm thanh sắt mà L đem theo trước đó đi đến cổng chính nhà ông B, dùng thanh sắt chọc vào giữa tai khóa và ổ khóa cổng rồi vặn gãy tai móc khóa cổng để mở cổng, T cầm tai khóa và ổ khóa ném ra ngoài đường trước cổng. Sau đó, L trèo qua tường bao loan về nhà mình để cất các dụng cụ vừa sử dụng để trộm cắp tài sản rồi lấy 01 chiếc xe lôi hai bánh tự chế, 01 chiếc bạt nhựa màu xanh, 01 đoạn dây dù đi sang nhà ông B để chở bộ trường kỷ trộm cắp được. L và T khiêng bộ trường kỷ lên xe lôi, dùng dây dù buộc chặt lại, che phủ kín bạt nhựa lên trên rồi kéo về nhà L cất giấu. L bảo T đi về nhà trước để L đem bộ bàn ghế đi bán, khi nào bán được sẽ đem tiền về chia cho T thì T đồng ý và đi về nhà ngủ. Đến khoảng 03 giờ 00 phút cùng ngày, L trèo lên tường bao loan lấy 02 bao tải đựng chiếc lư hương vừa trộm cắp được của nhà ông B đem cất tại lán xe nhà mình. Sau đó, L một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Blade, màu sơn đỏ- đen, biển kiểm soát: 88L1- 429.87 kéo theo chiếc xe lôi tự chế chở bộ bàn ghế vừa trộm cắp được đem đến nhà người quen làm nghề thợ mộc là anh Phạm Dương C, sinh năm 1973, trú tại thôn B, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi gặp anh C, L nói với anh C đây là bộ bàn ghế trường kỷ của gia đình mình, không có nhu cầu sử dụng nữa nên nhờ anh C đánh lại sơn véc ni cho mới và bán hộ bộ bàn ghế này thì anh C đồng ý. Sau khi để lại bộ bàn ghế này tại nhà anh C thì L đi về nhà mình.

Đến ngày 17/5/2021, ông Nguyễn Quang B về nhà kiểm tra phát hiện thấy 01 bộ bàn ghế trường kỷ bằng gỗ (gồm 01 bàn và 02 ghế) và 01 chiếc lư hương bằng đồng của gia đình mình bị kẻ gian trộm cắp mất nên đã trình báo sự việc với Cơ quan Công an đề nghị giải quyết. Quá trình kiểm tra xác minh tin báo tố giác tội phạm, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường đã tiến hành triệu tập Nguyễn Quang L và Nguyễn Viết T đến làm việc. Tại Cơ quan CSĐT, L và T đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản mà bản thân đã thực hiện như nêu trên.

Ngày 17/5/2021, Cơ quan CSĐT tiến hành khám nghiệm hiện trường tại nhà ông Nguyễn Quang B thuộc thôn Đ, xã C, huyện Vĩnh Tường, xác định:

+ Tại vị trí cửa sổ phòng ngủ được lắp 01 bộ cửa và song làm Bằng gỗ lim Nam Phi. Bộ cửa này gồm 02 cánh có kích thước: rộng 1,10m, cao 1,48m, dày 3,8cm. Kiểm tra bộ cửa này xác định bị hư hỏng các bộ phận: Tại mép ngoài ở mặt thành cửa bên phải có vết cạy phá móp méo trên diện 0,21m x 0,02m, vết này cách mép cửa bên dưới 0,04m. Đối diện vết này sang cánh bên trái, tại mặt ngoài có vết cạy phá móp méo trên diện 0,17m x 0,03m. Mặt ngoài cửa bị bung thanh gỗ ốp để lộ đinh đóng, mặt trong có khóa Clenmon bị cong, đầu phía dưới vênh ra ngoài 1,5cm, dài 1,5cm; bộ song cửa gồm có 07 song Bằng gỗ lim Nam Phi hình trụ tròn cao 1,40m, đường kính 3,3cm. Kiểm tra xác định song thứ 3 từ phải sang trái hướng từ ngoài vào trong bị gãy rời làm hai, một nửa bên dưới dài 62cm.

+ Tại vị trí cửa ra vào bên phải được lắp 01 bộ cửa ra vào nhà Bằng gỗ lim Nam Phi. Bộ cửa này gồm 02 cánh có kích thước: rộng 1,11m, cao 2,36m, dày 0,04m. Kiểm tra bộ cửa này xác định bị hư hỏng các bộ phận: Cánh cửa bên trái có lắp khóa ốp có tay nắm bên trong và bên ngoài, phát hiện bề mặt thành ngoài ở vị trí chốt khóa có vết cạy phá, móp méo trên diện 0,40m x 0,05m, vị trí thấp nhất cách mặt đất 0,90m, khóa có nhãn hiệu “HUY HOÀNG”. Tại vị trí chốt khuy khóa bị bung chốt trên và dưới. Cửa này bị bung thanh gỗ bên ngoài để lộ ra các đầu đinh đóng trên cửa. Đối diện vết móp méo tại ổ khóa cửa bên trái sang cửa bên phải tại mặt thành chốt khóa cánh cửa phát hiện vết móp mép, bung vỡ trên diện 0,45m x 0,04m. Bề mặt hai lỗ chốt khóa cửa có ốp sắt bị cong vênh ra phía bên ngoài, thanh ốp gỗ phía bên trong bị vênh vào phía bên trong 0,01m.

+ Tại vị trí cửa cổng bằng kim loại bị hư hỏng 01 chiếc tai móc khóa bằng kim loại được hàn gắn trên cổng, kích thước: 02cm x 03cm, dày 0,1cm.

+ Quá trình khám nghiệm hiện trường đã thu giữ: 01 mẩu kim loại hình tam giác có kích thước: 0,02m x 0,02m x 0,01m; 01 mẩu kim loại hình chữ nhật có kích thước: 2,5cm x 1,8cm x 0,8cm; 01 tấm kính màu đen, có kích thước: 1,05m x 0,50m x 0,8cm; 01 đoạn gỗ hình tròn dài 62cm, đường kính 3,3cm, một đầu được cưa bằng, một đầu gãy nham nhở; 01 thanh gỗ dài 1,48m, rộng 0,03cm, dày 01cm, phía trên thanh gỗ này có đóng các đầu đinh và 01 thanh gỗ dài 2,36m, rộng 03cm, dày 1,2cm, phía trên thanh gỗ này có các đầu đinh.

Cùng ngày 17/5/2021, anh Nguyễn Thế Khánh, sinh năm 1979, ở xã C, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc là hàng xóm gần nhà ông B tự nguyện giao nộp cho Cơ quan CSĐT 01 đoạn video từ hệ thống camera an ninh lắp đặt tại nhà anh ghi lại hình ảnh đối tượng nghi vấn trộm cắp tài sản của gia đình ông B ngày 16/5/2021.

Ngày 18/5/2021 Cơ quan CSĐT thu giữ tại nhà ở của anh Phạm Dương C, gồm: 01 chiếc bàn gỗ, sơn màu nâu vàng, có kích thước: dài 104cm, rộng 49,5cm, cao 78,5 cm, có hai tầng, được đục diềm hoa văn và 02 chiếc ghế gỗ có đặc điểm giống nhau là đều làm Bằng gỗ đinh, sơn màu nâu vàng, có kích thước: dài 203cm, cao 80cm, mặt ghế cao 50cm, rộng 58cm, xung quanh được đục diềm hoa văn. Anh C tự khai nhận đây là tài sản do Nguyễn Quang L đem đến nhà anh rạng sáng ngày 16/5/2021 nhờ anh đánh lại sơn véc ni cho mới và bán hộ L.

Cùng ngày 18/5/2021 Cơ quan CSĐT thu giữ của Nguyễn Quang L các vật chứng, gồm:

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu GOLY, loại A10, màu vàng, bên trong lắp sim thuê bao 0397410018

+ 01 chiếc xà cầy Bằng kim loại có chiều dài 101cm, đường kính 02cm, có 01 đầu dẹt bản rộng nhất là 03cm, 01 một đầu cong và dẹt bản rộng nhất là 05cm có 01 rãnh ở giữa đầu dẹt;

+ 01 chiếc cưa (loại cưa cầm tay) Bằng kim loại có tổng chiều dài 52cm, phần thân cưa dài 40cm được làm Bằng kim loại màu trắng có 01 lưỡi cưa gồm nhiều răng cưa, bản rộng nhất 4,5cm, trên thân cưa có in các chữ “CHAN LONG MADE IN TAIWAN TOP” có vết hoen rỉ, phần chuôi cưa được bọc bằng nhựa màu đen dài 12cm, chiếc cưa này được bọc trong 01 vỏ nhựa màu đen dài 42cm, bản rộng 05cm;

+ 01 thanh kim loại dài 47cm, có 01 đầu dẹt cong bản rộng nhất 1,5cm, đầu còn lại có hình soắn dài 04cm;

+ 01 bao tải xác rắn màu trắng xanh, bên trong có để 01 thân lư hương bằng đồng, cao 30 cm, miệng có đường kính là 23cm, phần thân được gắn 02 tai ở hai bên có chiều cao mỗi tai là 20cm, bên dưới được gắn 03 chân có chiều dài 12cm, thân lư hương này có hoa văn nổi;

+ 01 bao tải xác rắn màu vàng, bên trong có đựng 01 đế lư hương bằng đồng cao 09cm, mặt đế có đường kính là 22cm, ở giữa được dập nổi 01 hình tròn đục lỗ hình hoa văn và 01 nắp lư hương Bằng đồng cao 18cm, có đường kính là 22cm, trên đỉnh nắp có gắn tượng hình 01 con vật;

+ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Blade, màu sơn đỏ- đen, có biển kiểm soát: 88L1-429.87 có số máy: JA36E0450630, số khung: 3652GY013625;

+ 01 chiếc xe lôi hai bánh tự chế bằng sắt, được sơn màu xanh, có tổng chiều dài thân xe là 250cm, chiều rộng của thùng xe 80cm, phần thân xe được gắn trục có hai bánh xe;

+ 01 chiếc giá đỡ bằng kim loại để gắn càng xe lôi vào xe mô tô;

+ 01 một chiếc quần dài bằng vải màu xám ghi;

+ 01 chiếc áo sơ mi vải cộc tay màu tím có các xọc kẻ;

+ 01 chiếc khẩu trang y tế màu xanh;

+ 01 đôi dép màu đen, trên phần thân dép có in chữ AISA;

+ 01 chiếc nón lá có đường kính 40cm, dây quai nón màu tím;

Ngày 19/5/2021 Nguyễn Viết T tự nguyện giao nộp cho Cơ quan CSĐT vật chứng, gồm: 01 đôi giầy thể thao bằng vải màu xanh nhãn hiệu Fashion Sport, có đế giầy màu trắng, dây giầy có hai màu đen- trắng; 01 khẩu trang y tế màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, loại J3 Pro, màu đen bên trong lắp sim thuê bao 0977664922.

Ngày 02/7/2021 ông Nguyễn Quang B tự nguyện giao nộp cho Cơ quan CSĐT 01 chiếc vỏ thùng sơn màu trắng.

Ngày 19/5/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 187 gửi Hội đồng định giá tài sản huyện Vĩnh Tường đề nghị định giá xác định giá trị tài sản là 01 bộ trường kỷ Bằng gỗ đinh (gồm 01 chiếc bàn và 02 chiếc ghế) và 01 chiếc lư hương Bằng đồng mà L và T trộm cắp nêu trên. Tại Kết luận định giá tài sản số 65/KL- HĐĐGTTHS ngày 25/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện Vĩnh Tường, kết luận: Tổng giá trị của tài sản nêu trên là 29.500.000 đồng (Trong đó: bộ trường kỷ trị giá 25.000.000 đồng, chiếc lư hương Bằng đồng trị giá 4.500.000 đồng)

Ngày 01/7/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 234 gửi Hội đồng định giá tài sản huyện Vĩnh Tường đề nghị định giá xác định giá trị thiệt hại của các tài sản bị T và L làm hư hỏng trong quá trình đột nhập vào nhà ông B trộm cắp tài sản gồm: 01 bộ cửa sổ và song cửa sổ, 01 bộ cửa ra vào, 01 chiếc tai móc khóa cổng bằng kim loại bị hư hỏng, có đặc điểm như nêu trên và 01 chiếc khoá treo nhãn hiệu Việt- Tiệp. Tại Kết luận định giá tài sản số 92/KL-HĐĐGTTHS ngày 26/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện Vĩnh Tường, kết luận: Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại nêu trên là: 1.775.000 đồng.

Cơ quan CSĐT đã thông báo cho ông Nguyễn Quang B, bị can Nguyễn Quang L và bị can Nguyễn Viết T biết nội dung các Kết luận định giá tài sản nêu trên thì cả 03 người đều nhất trí với nội dung kết luận định giá tài sản, không ai có ý kiến thắc mắc gì.

Ngày 26/5/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường ra Quyết định trưng cầu giám định số 320, trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự- Công an Tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số điện tử đối với đoạn video lưu trữ trong chiếc USB mà anh Nguyễn Thế K giao nộp với nội dung yêu cầu giám định: Chụp ảnh, thuyết minh, mô tả đặc điểm, hành động của người và phương tiện xuất hiện trong đoạn video lưu trữ trong USB gửi giám định, sao chép đoạn video trên ra đĩa DVD. Tại Kết luận giám định số 1286/KLGĐ ngày 10/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận:

Chụp được 06 (sáu) ảnh đặc điểm, hành động của người và phương tiện xuất hiện trong tệp tin video gửi giám định. Ảnh chụp và thuyết minh được in vào 01 (một) bản ảnh giám định.

01 (một) tệp tin video gửi giám định được sao lưu vào 01 (một) đĩa DVD.

Bản ảnh giám định được thuyết minh như sau:

Ảnh 1, 2: Xuất hiện 02 người không rõ đặc điểm, ngồi trên 01 xe hai bánh đang di chuyển xuất hiện trước tầm quan sát của camera.

Ảnh 3, 4: Xuất hiện 01 người mặc áo ngắn tay, quần dài, đầu đội nón kéo theo xe cải tiến di chuyển trên đường theo chiều mũi tên đỏ, trên xe không chứa đồ vật.

Ảnh 5, 6: Xuất hiện 01 xe cải tiến được phủ bạt di chuyển trên đường theo chiều mũi tên đỏ, không rõ hình ảnh người lôi, kéo.

Cơ quan CSĐT đã thông báo cho ông Nguyễn Quang B, Nguyễn Quang L và Nguyễn Viết T biết nội dung kết luận giám định nêu trên thì ông B nhất trí với nội dung kết luận giám định, không có ý kiến thắc mắc gì. Còn L và T xem bản ảnh giám định thì L xác định người mặc áo ngắn tay, quần dài, đầu đội nón kéo theo xe cải tiến di chuyển trên đường theo chiều mũi tên đỏ, trên xe không chứa đồ vật tại ảnh số 3 và ảnh số 4 trong bản ảnh giám định chính là L, đối với các hình ảnh khác do ảnh mờ không rõ nên L không nhận ra. Còn T sau khi quan sát thì cho biết do ảnh mờ không rõ nên không nhận ra ai ở trong bản ảnh giám định.

Ngày 12/7/2021 Cơ quan CSĐT tiến hành cho Nguyễn Quang L, Nguyễn Viết T thực nghiệm điều tra diễn tả lại toàn bộ quá trình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ông Nguyễn Quang B. Kết quả: L và T đã diễn tả lại toàn bộ diễn biến, hành vi trộm cắp tài sản như nội dung vụ án đã nêu trên.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Quang L và Nguyễn Viết T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của L và T phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng, biên bản thực nghiệm điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án

Tại bản Cáo trạng số: 93/CT-VKSVT ngày 10 tháng 9 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, Tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố các bị cáo Nguyễn Quang L và Nguyễn Viết T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường trình bày lời luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như nội dung bản cáo trạng nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang L, Nguyễn Viết T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo vì L do các bị cáo đều là người lao động tự do, công việc và thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Quang L và Nguyễn Viết T đã tự nguyện sửa chữa những tài sản bị hư hỏng trong quá trình trộm cắp tài sản của ông B, sau khi được L và T sửa chữa tài sản bị hư hỏng và nhận lại toàn bộ tài sản bị L và T trộm cắp, ông B không yêu cầu đề nghị L và T bồi thường thêm gì.

Ngoài ra còn đề nghị xử L vật chứng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Tường, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Quang L, Nguyễn Viết T đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, các bị cáo đã khai nhận như sau: Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 16/5/2021 tại nhà ông Nguyễn Quang B, sinh năm 1957 ở thôn Đ, xã C, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Lợi dụng nhà ông B không có ai ở nhà trông giữ, quản L tài sản nên Nguyễn Quang L và Nguyễn Viết T đã cùng nhau đột nhập vào nhà ông B trộm cắp 01 bộ bàn ghế trường kỷ làm bằng gỗ đinh (gồm 01 chiếc bàn và 02 chiếc ghế) và 01 bộ lư hương bằng đồng của ông B. Tổng trị giá tài sản thiệt hại là 29.500.000 đồng.

Xét lời nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của những người làm chứng, người bị hại, kết luận giám định, Biên bản thực nghiệm hiện trường và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập khách quan, đúng pháp luật. Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Các bị cáo Nguyễn Quang L, Nguyễn Viết T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự qui định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng … thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù 06 tháng đến 03 năm”.

. Xét tính chất vụ án và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương và làm hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần xử phạt các bị cáo thật nghiêm khắc để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

. Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo Nguyễn Quang L, Nguyễn Viết T đều là những người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật song do tham lam tư lợi nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Bản thân các bị cáo đều không không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự, các bị cáo đều có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đó là người phạm tội đã tự nguyện sửa sửa chữa, bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả cho người bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, người bị hại là ông Nguyễn Quang B có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú ổn định, hành vi của các bị cáo chưa đến mức độ phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo. Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Như vậy cũng đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Trong vụ án này, Nguyễn Quang L là người chủ mưu, khởi xướng, chuẩn bị công cụ, cùng Nguyễn Viết T trộm cắp tài sản tại nhà ông Nguyễn Quang B sau đó L đem tài sản đi tiêu thụ, cất giấu nên hành vi của L giữ vai trò chính. Nguyễn Viết T sau khi được L rủ đi trộm cắp tài sản, T đã đồng ý và tích cực tham gia thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại nhà ông Nguyễn Quang B, hành vi của T giữ vai trò đồng phạm với L. Do vậy cần phải xử phạt bị cáo L mức án cao hơn bị cáo T mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Quang L và Nguyễn Viết T đã tự nguyện sửa chữa những tài sản bị hư hỏng cho ông B, sau khi được L và T sửa chữa tài sản bị hư hỏng và nhận lại toàn bộ tài sản bị L và T trộm cắp, ông B không yêu cầu đề nghị L và T bồi thường thêm gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về hình phạt bổ sung, xét thấy: Các bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và tài sản gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về các vấn đề khác:

Đối với hành vi L và T sử dụng các dụng cụ mang đi để cạy phá làm hư hỏng một số tài sản của nhà ông B gồm: 01 bộ cửa sổ được làm bằng gỗ lim Nam Phi, 01 bộ cửa ra vào nhà bằng gỗ lim Nam Phi, 01 chiếc khoá treo nhãn hiệu Việt- Tiệp và 01 chiếc tai móc khóa bằng kim loại gắn trên cổng với tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là: 1.775.000 đồng. Do L và T chưa có tiền án, tiền sự gì về hành vi Hủy hoại hoặc Cố ý làm hư hỏng tài sản nên hành vi nêu trên của L và T không cấu thành tội Hủy hoại hoặc Cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định tại điều 178 Bộ luật hình sự. Hành vi trên của L và T đã vi phạm vào điểm a, khoản 2, Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Do vậy, Công an huyện Vĩnh Tường đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L và T theo quy định là phù hợp.

Đối với anh Phạm Dương C là người làm nghề thợ mộc, ngày 16/5/2021 L đem bộ bàn ghế trường kỷ bằng gỗ đinh trộm cắp được của ông B đến nhờ C đánh lại sơn véc ni cho mới và bán hộ bộ bàn ghế này. Quá trình điều tra xác định khi L mang tài sản trên đến gặp anh C, L nói đó là bộ bàn ghế nhà L, anh C không biết bộ bàn ghế trường kỷ trên là do L trộm cắp mà có. Do đó, cơ quan CSĐT điều tra không đề cập xử L là phù hợp.

. Về xử L vật chứng:

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu GOLY, loại A10, màu vàng, bên trong lắp sim thuê bao 0397410018. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của L, ngày 15/5/2021 L sử dụng điện thoại và sim này để gọi và hẹn T đi trộm cắp tài sản của ông B. Do đó cần tịch thu bán phát mại chiếc điện thoại sung vào ngân sách nhà nước và tịch thu tiêu hủy chiếc sim trên.

Đối với chiếc điện thoại 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, loại J3 Pro, màu đen bên trong lắp sim thuê bao 0977664922. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của T, ngày 15/5/2021 T sử dụng điện thoại và sim này để liên lạc, trao đổi với L về việc trộm cắp tài sản của ông B. Do đó cần tịch thu bán phát mại chiếc điện thoại sung vào ngân sách nhà nước và tịch thu tiêu hủy chiếc sim trên.

Đối với 01 chiếc xà cầy bằng kim loại, 01 chiếc cưa (loại cưa cầm tay) Bằng kim loại, 01 thanh kim loại dài 47cm, 01 bao tải xác rắn màu trắng xanh, 01 bao tải xác rắn màu vàng. Quá trình điều tra xác định là tài sản của L, ngày 16/5/2021 L và T sử dụng làm công cụ trộm cắp tài sản của ông B. Do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc bạt nhựa màu xanh, 01 đoạn dây dù ngày 16/5/2021 L sử dụng làm công cụ buộc, che đạy tài sản trộm cắp được của ông B. L tự khai nhận là tài sản của L, sau khi vận chuyển tài sản trộm cắp đến nhà anh C xong, L đã vứt bỏ chiếc bạt và đoạn dây dù này trên dệ đê thuộc địa phận xã L. Quá trình điều tra, cơ quan CSĐT đã rà soát, ra thông báo truy tìm vật chứng là 01 chiếc bạt nhựa màu xanh và 01 đoạn dây dù nêu trên, đến nay chưa thu giữ được. Do đó Cơ quan CSĐT tiếp tục truy tìm, khi nào thu giữ được xử L sau.

Đối với 01 chiếc xe lôi hai bánh tự chế bằng sắt, được sơn màu xanh, 01 chiếc giá đỡ bằng kim loại để gắn càng xe lôi vào xe mô tô. Quá trình điều tra xác định là tài sản của L sử dụng làm phương tiện vận chuyển tài sản trộm cắp được của ông B ngày 16/5/2021. Do đó cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe BLADE, màu sơn đen- đỏ, BKS: 88L1- 429.87, đăng ký mang tên Nguyễn Quang Hiền, sinh năm 1981, trú tại xã C, huyện V là con trai ruột của L. Quá trình xác minh tại địa phương và gia đình L cho biết hiện tại anh H đã xin tạm vắng tại địa phương, đi lao động tại tỉnh B, đến nay chưa làm việc được với anh H. Do đó Cơ quan CSĐT tiếp tục tạm giữ chiếc xe mô tô trên để điều tra, xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử L sau.

Đối với 01 bộ trường kỷ bằng gỗ đinh (gồm 01 bàn và 02 ghế) và 01 chiếc lư hương bằng đồng. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Quang B bị L và T trộm cắp. Do đó Cơ quan CSĐT đã trả lại những tài sản trên cho ông B. Sau khi nhận lại tài sản, ông B không có ý kiến, đề nghị gì là phù hợp.

Đối với 01 mẩu kim loại hình tam giác; 01 mẩu kim loại hình chữ nhật; 01 tấm kính màu đen; 01 đoạn gỗ hình tròn; 02 thanh gỗ bị T và L cạy phá trong khi đột nhập để trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Quang B. Do đó, Cơ quan CSĐT đã trả lại những tài sản trên cho ông B. Sau khi nhận lại tài sản, ông B không có ý kiến, đề nghị gì.

Đối với 01 chiếc vỏ thùng sơn màu trắng ngày 16/5/2021 L và T sử dụng vỏ thùng sơn này làm công cụ trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông B, do đó Cơ quan CSĐT đã trả lại cho ông B, sau khi nhận lại tài sản ông B không có yêu cầu, đề nghị gì.

Đối với 01 một chiếc quần dài B vải, 01 chiếc khẩu trang y tế, 01 đôi dép màu đen, 01 chiếc nón lá và 01 chiếc áo sơ mi vải cộc tay thu giữ của Nguyễn Quang L. Quá trình điều tra xác định là trang phục của Nguyễn Quang L sử dụng vào việc sinh hoạt hàng ngày, ngày 16/5/2021 L mặc khi đi trộm cắp tài sản của ông B, không phải là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội. Do đó Cơ quan CSĐT đã trả lại cho L.

Đối với 01 đôi giày thể thao bằng vải màu xanh và 01 khẩu trang y tế màu xanh thu giữ của Nguyễn Viết T. Quá trình điều tra xác định là trang phục của Nguyễn Viết T sử dụng vào việc sinh hoạt hàng ngày, ngày 16/5/2021 T mặc khi đi trộm cắp tài sản của ông B, không phải là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội. Do đó Cơ quan CSĐT đã trả lại cho T.

. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Quang L, Nguyễn Viết T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang L và Nguyễn Viết T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; .

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết T 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Nguyễn Quang L và Nguyễn Viết T cho UBND xã xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy đối với các vật chứng gồm: 01 sim thuê bao 0397410018, 01 chiếc xà cầy bằng kim loại, 01 chiếc cưa (loại cưa cầm tay) Bằng kim loại, 01 thanh kim loại dài 47cm, 01 bao tải xác rắn màu trắng xanh, 01 bao tải xác rắn màu vàng là các vật chứng thu giữ của Nguyễn Quang L và sim thuê bao 0977664922 thu giữ của Nguyễn Viết T.

Tịch thu, bán phát mại sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu GOLY, loại A10, màu vàng và 01 chiếc xe lôi hai bánh tự chế bằng kim loại được sơn màu xanh; 01 chiếc giá đỡ bằng kim loại để gắn xe máy vào càng xe lôi thu giữ của Nguyễn Quang L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, loại J3 Pro, màu đen thu giữ của Nguyễn Viết T.

(Toàn bộ vật chứng của vụ án có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/9/2021 giữa Công an huyện Vĩnh Tường và Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buô ̣c các bị cáo Nguyễn Quang L, Nguyễn Viết T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ