- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị M M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tố tụng hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2019/HS-PT Ngày : 24-9-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Văn Chấn
Các Thẩm phán:
1. Ông Hoàng Ngọc Linh
2. Ông Nguyễn Văn Thiện
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Phước Đây - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long
Xuyên, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm
vụ án hình sự thụ lý số 117/2019/TLPT-HS ngày 14 tháng 8 năm 2019 đối với bị
cáo Nguyễn Thị M M do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm
số 47/2019/HS-ST ngày 02 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố
Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Thị M M, sinh ngày 29 tháng 10 năm 1983, nơi sinh tại tỉnh
Quảng Trị; Nơi cư trú: Số 670A, tổ 48B, khóm Đ Th, phường Đ X, thành phố L
X, tỉnh A G; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo:
Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Lớp 3/12; Cha: Nguyễn Đức
H, sinh năm 1956; Mẹ: Võ Thị Xuân L, sinh năm 1963; Chồng: Hồng Tín Ngh,
sinh năm 1982; Có 01 người con sinh năm 2008.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 30/01/2019 đến nay.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Phạm Tiến N, sinh năm
1984; Nơi cư trú: Số 116, đường Hà Hoàng Hổ, phường Mỹ Xuyên, thành phố
Long Xuyên, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Thị M M làm thuê cho chị Nguyễn Thị Kim Tuyến tại tiệm
tóc Kim Ngân địa chỉ số 137, đường Trần Phú, khóm Đông Thịnh 9, phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang từ tháng 4 năm 2018. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29 tháng 01 năm 2019, My thấy chị Tuyến treo chùm chìa khóa nhà riêng ở số 5F3, khóm Đông Thịnh 9, phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trên móc treo nón bảo hiểm tại tiệm tóc, nên My nảy sinh ý định lấy chùm chìa khóa đến nhà chị Tuyến mở cửa tìm tài sản lấy trộm. Lợi dụng lúc không có người trong tiệm, My lấy chùm chìa khóa trên, cùng cây dũa móng tay bằng kim loại rồi điều khiển xe mô tô biển số 67L1-883.76 đến nhà riêng của chị Tuyến.
Đến đây, My mở cửa vào nhà mở tủ đựng quần áo lấy 01 con heo đất màu
vàng, dùng cây dũa móng tay mang theo móc lấy trộm 5.500.000 đồng sau đó khóa cửa nhà như cũ và trở về tiệm tóc Kim Ngân ném bỏ cây dũa móng tay vào bụi chuối bên hông tiệm tóc. Đến khoảng 22 giờ ngày 29 tháng 01 năm 2019, chị Tuyến phát hiện con heo đất để không đúng vị trí ban đầu nên kiểm tra phát hiện mất trộm tiền, nên tìm My hỏi thì My thừa nhận lấy trộm 5.500.000 đồng và đã trả lại chị Tuyến số tiền này. Sau đó, Tuyến đến Công an phường Mỹ Phước tố giác và giao nộp số tiền trên cho cơ quan công an lập biên bản thu giữ tang vật.
Quá trình điều tra chị Tuyến còn trình bày: Khoảng cuối tháng 11 năm
2018, trong lúc làm tóc cho khách hàng chị Tuyến để chiếc điện thoại Oppo F1S màu hồng có gắn sim số, thẻ nhớ Micro Ultimate ở trong rổ đựng dụng cụ làm móng tay dưới kệ cắt tóc và bị mất trộm. Sau đó, chị Tuyến có nói cho những người làm thuê cho Tuyến, trong đó có My biết việc này nhưng không đến Công an trình báo. Bị cáo My không thừa nhận lấy trộm điện thoại của chị Tuyến. Tuy nhiên, qua kiểm tra thẻ nhớ, điện thoại trên xác định bị cáo đã lấy trộm điện thoại của chị Tuyến.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 18/02/2019: anh Phạm Tiến N chủ tiệm cầm
đồ Nhật Thành xác định ngày 25/01/2019 cửa hàng cầm đồ Nhật Thành do anh làm chủ có nhận cầm chiếc điện thoại di động Oppo F1S của chị Nguyễn Thị M M với số tiền 1.000.000 đồng. Anh tự nguyện giao nộp điện thoại trên cho cơ quan điều tra. Yêu cầu chị Nguyễn Thị M M trả lại cho anh số tiền 1.000.000 đồng.
Anh Hồng Tín Nghĩa chồng của bị cáo Nguyễn Thị M M trình bày: xe mô
tô biển số 67L1-883.76 là của anh. Anh Nghĩa cho bị cáo My My sử dụng làm phương tiện đi lại. Anh Nghĩa yêu cầu được nhận lại xe.
* Tại Kết luận định giá số 28/KL.HĐ ngày 25 tháng 3 năm 2019, số
66/KL.HĐ ngày 19 tháng 4 năm 2019 của Hội đồng Định giá trong tố tụng thành phố Long Xuyên, xác định: 01 điện thoại Oppo F1S, sim, thẻ nhớ, trị giá: 2.594.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2019/HS-ST ngày 02 tháng 7 năm 2019
của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị M M, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52;
Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị M M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời
hạn tù tính từ ngày 30/01/2019.
Ngoài ra, án sơ thẩm xử còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền
kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/7/2019, bị cáo Nguyễn Thị M M có đơn
kháng cáo với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị M M vẫn giữ yêu
cầu kháng cáo xin giảm hình phạt, với lý do: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo
không thừa nhận lấy trộm 01 điện thoại của chị Tuyến do bị cáo sợ mức án
nặng nên bị cáo không nhận; gia đình bị cáo nộp 1.000.000 đồng khắc phục mà
án sơ thẩm buộc trả cho ông Nam; hoàn cảnh gia đình khó khăn, còn cha mẹ
già, con nhỏ.
Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố tại phiên tòa, sau khi xét hỏi tranh
luận, xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo; xem xét các tình
tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu kháng cáo. Đề nghị
Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo;
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2015. Có thể xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng
cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Bị cáo Nguyễn Thị M M nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định, nên
được Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận, ngoài lần thực hiện hành vi
trộm 5.500.000 đồng của chị Tuyến, trước đó bị cáo có lấy trộm của chị Tuyến
01 điện thoại di động hiệu Oppo F1S, bị cáo không khai nhận lấy điện thoại là
do sợ mức án nặng. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại;
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và các tài liệu, chứng
cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử
bị cáo Nguyễn Thị M M, về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của
Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo thì thấy:
Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi
của mình là xâm phạm đến tài sản của người khác, là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn bất chấp và cố ý thực hiện. Xuất phát từ nguyên nhân lười biếng lao động, nhưng muốn có nhiều tiền tiêu xài mà không phải tốn nhiều công sức lao động cực nhọc. Bị cáo đã lợi dụng sự tin tưởng, vắng người, lén lút lấy chùm chìa khóa nhà của chị Tuyến để mở cửa vào nhà lấy trộm số tiền 5.500.000 đồng. Ngoài ra, vào tháng 11/2018 bị cáo còn thực hiện hành vi lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Oppo F1S của chị Tuyến trị giá 2.594.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác. Do đó, cần có một mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá toàn diện tính chất mức
độ, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M M 01 năm 06 tháng tù là phù hợp, thỏa đáng. Lẽ ra, cần giữ nguyên mức hình phạt như án sơ thẩm đã tuyên phạt. Tuy nhiên, xét thấy tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; thừa nhận hành vi lấy 01 điện thoại di động hiệu Oppo F1S của chị Tuyến mà cấp sơ thẩm bị cáo không thừa nhận; sau khi phạm tội bị phát hiện đã đến Công an đầu thú; tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại; bị cáo đã tác động gia đình nộp số tiền 1.000.000 đồng khắc phục mà án sơ thẩm tuyên buộc; có hoàn cảnh gia đình khó khăn; học lực thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; là phụ nữ, có con còn nhỏ đang tuổi cắp sách đến trường. Do đó, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có cân nhắc xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo.
Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải
chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo bị cáo Nguyễn Thị M M xin giảm nhẹ hình
phạt.
Sửa bản án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g
khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị M M 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài
sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/01/2019.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị M M bồi thường cho anh Phạm Tiến N số tiền
1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Bị cáo đã nộp xong theo biên lai thu tiền số
0002499 ngày 09/9/2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
Bị cáo Nguyễn Thị M M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; -VKSND tỉnh An Giang; -VKSND thành phố Long Xuyên; -TAND thành phố Long Xuyên ; -CQCSĐT thành phố Long Xuyên; -Chi cục THADS thành phố Long Xuyên; -Bị cáo; -Phòng KTNV & Thi hành án hình sự; -Tòa Hình sự; -PV 06 - Công an tỉnh An Giang; -Sở Tư pháp An Giang; -Văn phòng; -Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Văn Chấn |