- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2018/HS-ST Ngày: 30-10-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Văn Trình
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thành Tâm
Bà Nguyễn Thị Loan Phụng
Thư ký phiên toà: Ông Lê Hoàng Út - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Ông Phan Minh Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 83/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 92/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
NGUYỄN QUANG T, sinh năm: 1993 tại tỉnh Bến Tre; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 332F, khu phố H, phường P, thành phố BT, tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Số 446D, ấp P, xã PH, thành phố BT, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Q (đã chết) và bà Ô Thị T, sinh năm: 1968; Vợ, con: chưa có; Tiền án: không: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 09/2016/HSST ngày 14/3/2016 của Tòa án nhân dân thành phố BT, tỉnh Bến Tre đã xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 09/8/2018, tạm giam từ ngày 15/8/2018. (Có mặt)
- Bị hại:
1. Nguyễn Thị Tuyết H, sinh năm: 1973; (Vắng mặt)
2. Phan Thị Cẩm H, sinh năm: 1994; (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Số 18, ấp P, xã PH, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.
- Người làm chứng:
Lưu Kim T, sinh năm: 1992;
Nơi cư trú: Số 239A, ấp P, xã PH, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 09/8/2018, Nguyễn Quang T đi bộ ngang nhà của bà Phạm Thị Tuyết H ở số 18, ấp P, xã PH, thành phố BT, tỉnh Bến Tre thì nhìn thấy nhà của bà H không đóng cửa và bà H cùng con gái là Phan Thị Cẩm H đang nằm ngủ ở nhà sau nên nảy sinh ý định đột nhập vào bên trong lấy trộm tài sản. Để thực hiện ý định, T đi lối cửa trước vào bên trong nhà và núp sau tấm màng cửa buồng nhà bà H để quan sát. Khi thấy không bị ai phát hiện, T đi lại kệ tivi để ở gian nhà trước lấy của bà H 01 điện thoại Samsung Galaxy Y màu trắng, rồi đi xuống nhà sau lấy của chị H 01 cục sạc dự phòng đang cắm sạc pin điện thoại và 01 điện thoại Oppo F1 Olus X9009, bên trong ốp lưng điện thoại có cất 1.000.000 đồng và tiếp tục đi xuống phía cuối nhà sau lấy của bà H 01 điện thoại Samsung Galaxy J7 màu đen có gắn ốp lưng màu đen đang sạc pin để trên kệ gỗ rồi tẩu thoát ra ngoài. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, bà H và chị H thức dậy thì phát hiện bị mất trộm tài sản nên trình báo đến Công an xã PH, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. Khi lực lượng Công an xã PH đến hiện trường truy tìm thì phát hiện T đang lẫn trốn tại nhà số 584B, ấp P, xã PH, thành phố BT, tỉnh Bến Tre và vẫn còn đang cất giữ toàn bộ số tang vật nêu trên nên T báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đến thực hiện việc bắt khẩn cấp đối với T và thu hồi tang vật.
Vật chứng thu giữ gồm:
- Tiền Việt Nam: 1.000.000 đồng;
- 01 điện thoại Samsung Galaxy Y, màu trắng, số Imei: 357195052810667;
- 01 điện thoại Samsung Galaxy J7, màu đen, số Imei 1: 354802093509629, số Imei 2: 354803093509627;
- 01 điện thoại Oppo F1 Olus X9009, số Imei 1: 861754036756674, số Imei 2: 861754036756666;
- 01 cục sạc dự phòng, số Model BST – 005Q kèm theo 01 dây cáp màu trắng;
- 01 ốp lưng điện thoại màu đen, phía sau có in hình 02 con cò;
- 01 ốp lưng điện thoại màu đen, đỏ, phía sau có dòng chữ ENJOY TODAY.
Theo bản kết luận định giá trị tài sản số 902/KL-HĐĐG ngày 20/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Bến Tre kết luận:
- 01 điện thoại Samsung Galaxy Y, màu trắng, số Imei: 357195052810667 (đã qua sử dụng) trị giá vào ngày 09/8/2018 là 450.000 đồng;
- 01 điện thoại Samsung Galaxy J7, màu đen, số Imei 1: 354802093509629, số Imei 2: 354803093509627 (đã qua sử dụng) trị giá vào ngày 09/8/2018 là 2.128.000 đồng;
- 01 điện thoại Oppo F1 Olus X9009, số Imei 1: 861754036756674, số Imei 2: 861754036756666 (đã qua sử dụng) trị giá vào ngày 09/8/2018 là 2.745.000 đồng;
- 01 cục sạc dự phòng, số Model BST – 005Q kèm theo 01 dây cáp màu trắng trị giá vào ngày 09/8/2018 là 80.000 đồng;
- 01 ốp lưng điện thoại màu đen, phía sau có in hình 02 con cò (đã qua sử dụng) trị giá vào ngày 09/8/2018 là 20.000 đồng;
- 01 ốp lưng điện thoại màu đen, đỏ, phía sau có dòng chữ ENJOY TODAY (đã qua sử dụng) trị giá vào ngày 09/8/2018 là 20.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 88/CT-VKSTPBT ngày 08 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo Nguyễn Quang T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015: xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T từ 12 đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã giao trả cho bị hại Phạm Thị Tuyết H và Phan Thị Cẩm H toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt và các bị hại không yêu cầu gì khác. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định.
Bị cáo Nguyễn Quang T có lời khai tại phiên tòa là vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 09/8/2018, tại nhà số 18, ấp P, xã PH, thành phố BT, tỉnh Bến Tre, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của bị hại Phạm Thị Tuyết H 01 điện thoại Samsung Galaxy Y, 01 điện thoại Samsung Galaxy J7, 01 ốp lưng điện thoại và chiếm đoạt của bị hại Phan Thị Cẩm H 01 điện thoại Oppo F1 Olus X9009, 01 cục sạc dự phòng, 01 ốp lưng điện thoại và 1.000.000 đồng. Sau đó, hành vi của bị cáo bị phát hiện và thu giữ toàn bộ tang vật. Bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật về đề nghị giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên sơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố Bến Tre, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Nguyễn Quang T tại phiên tòa là vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 09/8/2018, tại nhà số 18, ấp P, xã PH, thành phố BT, tỉnh Bến Tre, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của bị hại Phạm Thị Tuyết H 01 điện thoại Samsung Galaxy Y, 01 điện thoại Samsung Galaxy J7, 01 ốp lưng điện thoại và chiếm đoạt của bị hại Phan Thị Cẩm H 01 điện thoại Oppo F1 Olus X9009, 01 cục sạc dự phòng, 01 ốp lưng điện thoại và 1.000.000 đồng. Sau đó, hành vi của bị cáo bị phát hiện và thu giữ toàn bộ tang vật. Đối chiếu với lời khai của các bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác thu thập được trong quá trình điều tra là phù hợp nhau. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt của các bị hại được xác định qua kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản là 6.443.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với giá trị, không khiếu nại gì, Hội đồng xét xử căn cứ giá trị Hội đồng định giá xác định để xét xử đối với bị cáo. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận biết hành vi bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện và hậu quả đã xảy ra. Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của tổ chức, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn bị cáo thực hiện tội phạm, gây tâm lý lo sợ cho quần chúng nhân dân trong lao động, sinh hoạt hằng ngày.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị Tòa án kết án về tội “Chứa mại dâm” và “Trộm cắp tài sản”, trong đó lần phạm tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích lại tiếp tục vi phạm nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xét tình tiết giảm nhẹ các bị cáo được hưởng như phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, thành khẩn khai báo, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ và hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là điều cần thiết nhằm cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Phạm Thị Tuyết H đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 01 điện thoại Samsung Galaxy Y, 01 điện thoại Samsung Galaxy J7, 01 ốp lưng điện thoại và bị hại Phan Thị Cẩm H đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 01 điện thoại Oppo F1 Olus X9009, 01 cục sạc dự phòng, 01 ốp lưng điện thoại và 1.000.000 đồng, hiện các bị hại không yêu cầu gì thêm nên ghi nhận.
Về xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã giao trả lại cho bị hại Phạm Thị Tuyết H 01 điện thoại Samsung Galaxy Y, 01 điện thoại Samsung Galaxy J7, 01 ốp lưng điện thoại và giao trả cho bị hại Phan Thị Cẩm H 01 điện thoại Oppo F1 Olus X9009, 01 cục sạc dự phòng, 01 ốp lưng điện thoại và 1.000.000 đồng. Xét thấy, các tài sản trên là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của các bị hại nên việc giao trả là phù hợp nên ghi nhận.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo T “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Quang T phải nộp theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T 01 (Một) năm tù;
Thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2018.
2. Áp dụng 48 Bộ luật Hình sự:
Ghi nhận bị hại Phạm Thị Tuyết H đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 01 (Một) điện thoại Samsung Galaxy Y, 01 điện thoại Samsung Galaxy J7, 01 (Một) ốp lưng điện thoại và bị hại Phan Thị Cẩm H đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 01 (Một) điện thoại Oppo F1 Olus X9009, 01 (Một) cục sạc dự phòng, 01 (Một) ốp lưng điện thoại và 1.000.000 (Một triệu) đồng, hiện các bị hại không yêu cầu gì thêm.
3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã giao trả lại cho bị hại Phạm Thị Tuyết H 01 (Một) điện thoại Samsung Galaxy Y, 01 (Một) điện thoại Samsung Galaxy J7, 01 (Một) ốp lưng điện thoại và giao trả cho bị hại Phan Thị Cẩm H 01 (Một) điện thoại Oppo F1 Olus X9009, 01 (Một) cục sạc dự phòng, 01 (Một) ốp lưng điện thoại và 1.000.000 (Một triệu) đồng.
4. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Quang T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND thành phố Bến Tre (1b); - Cơ quan điều tra CATP Bến Tre (1b); - Cơ quan THAHS CATP Bến Tre (1b); - Chi cục THA dân sự thành phố Bến Tre (1b); - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b); - UBND xã, phườn nơi bị cáo cư trú và thường trú; (2b) - Bị cáo, bị hại (3b); - Bộ phận thi hành án Hình sự (2b); - Lưu (văn phòng, hồ sơ vụ án) (2b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Ngô Văn Trình |