- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dũng và đp - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn D , Phương Tố Ng , Nguyễn Văn Ng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2025/HS-ST Ngày 25- 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quang Thái
2. Bà Lê Thị Bích Thuần
- Thư ký phiên tòa: Bà Khổng Thị Đức Hậu – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Phó Văn Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2025/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn D , sinh ngày 20 tháng 5 năm 1990 tại Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn C Q, xã C M, thành phố Ph Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Năm và bà Nguyễn Thị Tính; có vợ là Bùi Thị Mơ và có 03 con; tiền án (01): Tại Bản án hình sự sở thẩm số 73/2018//HSST ngày 25/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên xử phạt 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Chấp hành xong thời gian thử thách ngày 25/10/2023, chấp hành xong án phí ngày 14/12/2018; tiền sự: không; nhân thân: Tại Bản án số 59/2009/HSST ngày 26/8/2009 của Tòa án nhân dân thị xã Phúc Yên (nay là thành phố Phúc Yên), tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt 02 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm theo về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong thời gian thử thách ngày 26/8/2013, chấp hành xong án phí tháng 10/2009; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2024 đến nay, “có mặt”.
2. Phương Tố Ng , sinh ngày 10 tháng 8 năm 1981 tại Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn Ch N, xã T H, huyện B X, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phương Minh San và bà Dương Thị Thứ; có vợ là Phương Thị Lữ và có 03 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tại Quyết định số 1582 ngày 07/10/2005 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Phương Tố Ng vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, trong thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 13/6/2007. Tại Bản án số 56/HSST Ngày 25/8/2008 của Tòa án nhân dân thị xã Phúc Yên (nay là thành phố Phúc Yên), tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/7/2009, chấp hành xong án phí ngày 09/12/2008; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2024 đến nay, “có mặt”.
3. Nguyễn Văn Ng , sinh ngày 12 tháng 12 năm 1992 tại Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn A L, xã S L, huyện B X, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị Nh ; có vợ là Dương Thị Ngọc B và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2024 đến nay, “có mặt”.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị H , sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn L C, xã S L, huyện B X, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 02/8/2024 Công an huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành kiểm tra hành chính quán karaoke (không có biển bảng) của chị Nguyễn Thị H tại Thôn L C, xã S L, huyện B X, tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện có 08 đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy gồm: Nguyễn Văn D , Phương Tố Ng , Nguyễn Văn Ng , Cầm Thị T , Nguyễn Thị Th , Lê Văn Ngh , Đào Thị Thanh Ch và Nguyễn Thị L . Quá trình điều tra, xác minh có đủ căn cứ xác định Nguyễn Văn D , Phương Tố Ng , Nguyễn Văn Ng có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Nội dung cụ thể như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 02/8/2024, Nguyễn Văn D , Phương Tố Ng, Cầm Thị T , Nguyễn Thị Th , Lê Văn Ngh , Đào Thị Thanh Ch , Nguyễn Thị L di chuyển từ quán thịt trâu ở Thiện Kế đến quán karaoke (không có biển bảng) của chị Nguyễn Thị H để tổ chức sinh nhật cho cho chị Lại. Khi đến nơi, D yêu cầu lấy phòng hát thì được Nguyễn Văn Ng (quản lý của quán) bố trí phòng Vip 1 và phân công anh Lường Văn N (nhân viên của quán) phục vụ. Tại cửa phòng Vip 1, D , Nguyên mời Ngọc vào uống bia, Ngọc đồng ý. Sau khi cả nhóm vào Phòng Vip 1, Chung lấy bánh sinh nhật để trên bàn giữa phòng, thắp nến để mọi người chúc mừng sinh nhật Lại. Sau khi thổi nến xong, Lường Văn N mang đĩa hoa quả vào phòng rồi ra ngoài. Khoảng 21 giờ 30 phút, D lấy ra từ trong túi quần đang mặc trên người 02 túi, gồm 01 túi bên trong có ma túy “kẹo” (ma túy MDMA) là các mảnh có kích thước không đều nhau và 01 túi bên trong có ma túy “ke” (ma túy Ketamine) để trên mặt bàn cạnh cửa ra vào, lúc này Ngọc biết D lấy ma túy ra là để mời mọi người sử dụng nhưng không nói gì, đồng ý cho các đối tượng sử dụng ma túy tại phòng hát. Sau đó, D mở túi ma túy “kẹo” lấy một mảnh từ trong túi nilon tự cho vào miệng uống với nước Cocacola, rồi tiếp tục lấy các mảnh ma túy “kẹo” từ túi ra đi chia lần lượt cho Nguyên, Ngọc, Nghĩa, Tuyền, Thu mỗi người một mảnh để sử dụng, số ma túy kẹo còn lại trong túi D để ở bàn và nói với mọi người ai sử dụng thì sử dụng. Sau khi nhận ma túy kẹo từ D thì Nguyên, Ngọc, Nghĩa, Tuyền, Thu sử dụng hết; Chung tự lấy 01 mảnh ma túy trong túi nilon và cũng sử dụng hết. Số ma túy còn lại trong túi nilon D vẫn để trên mặt bàn trong phòng để mọi người sử dụng nhưng không ai sử dụng.
Sau đó, D lấy chiếc đĩa sứ màu trắng, đường kính 25,5cm (đĩa đựng hoa quả trước đó) ở trên bàn trong phòng, dùng bật lửa khò có sẵn trong phòng hơ nóng bề mặt dưới của đĩa sứ rồi đổ ma túy “ke” (Ketamine) từ trong túi nilon ra đĩa sứ và dùng chiếc thẻ cứng có sẵn ở trên bàn xào, trộn ma túy “ke” thành các hạt mịn, cùng lúc này D bảo Nguyên cuốn ống hút để sử dụng ma túy “ke”, Nguyên đồng ý, lấy tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng (mười nghìn đồng) của Nguyên cuốn thành ống hút rồi đưa lại cho D . Sau khi xào ma túy “ke” xong, D bảo Ngọc đi lấy đĩa (khay) gỗ để đổ ma túy vào đĩa gỗ để kẻ đường “ke” và sử dụng ma túy cho có cảm giác lạ và sang trọng, Ngọc đồng ý, rồi đi xuống khu vực bếp của quán lấy 01 đĩa gỗ hình chữ nhật, kích thước (30 x 20 x 01) cm đem vào phòng đưa cho D , D nhận đĩa gỗ rồi đổ ma túy “ke” từ đĩa sứ sang đĩa gỗ và lấy thẻ cứng kẻ 01 đường ma túy “ke” trên đĩa gỗ dùng ống hút sử dụng 01 đường ma túy “ke” đầu tiên, tiếp đó D đưa ống hút cho Nguyên rồi tiếp tục kẻ các đường ma túy “ke” trên đĩa gỗ và đưa lần lượt cho Nguyên sử dụng 02 đường ma túy ke, Nghĩa sử dụng 01 đường ma túy “ke”, Tuyền sử dụng 04 đường ma túy “ke”, số ma túy “ke” còn ở đĩa D để trên bàn ai sử dụng thì sử dụng thì Thu, Lại, Ngọc lần lượt sử dụng mỗi người 02 đường ma túy “ke”. Sau khi sử dụng ma túy MDMA và Ketamine xong thì các bị can và các đối tượng đã thỏa mãn nhu cầu của bản thân, đã “phê” ma túy, nhắm mắt và ngồi ngả ra phía sau ghế tựa, nghe nhạc tại phòng. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, thì bị Công an huyện Bình Xuyên kiểm tra, phát hiện, lập biên bản sự việc đưa các đối tượng về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Về nguồn gốc số ma túy D dùng để tổ chức cho Phương Tố Ng , Cầm Thị T , Nguyễn Thị Th , Lê Văn Ngh , Đào Thị Thanh Ch , Nguyễn Thị L và Nguyễn Văn Ng sử dụng tại phòng hát Vip 1: D khai do làm nghề taxi nên khoảng tháng 7 năm 2024 chở khách đi Hà Nội, D đã mua hai gói ma túy kẹo và ma túy ke của một nam giới khoảng 30 tuổi ở Hà Nội với tổng số tiền là 3.300.000 đồng (trong đó ma túy kẹo là 1.500.000 đồng; ma túy ke là 1.800.000 đồng). Do thời gian lâu và việc mua bán diễn ra nhanh chóng nên D không nhớ đã mua ma túy cụ thể ở vị trí nào mà chỉ nhớ mua của một người đàn ông không quen biết, mặc áo mưa trùm kín người ở vị trí hai bên đường có nhiều nhà thuộc khu vực Cầu Giấy, Hà Nội. Sau khi mua ma túy xong vì chưa có cơ hội sử dụng nên D gói ma túy kẹo bị vỡ thành nhiều mảnh có kích thước không đều nhau. Ngày 02/8/2024 là sinh nhật của chị Lại (nhân viên quản lý quán pia của D ) nên sau khi ăn tối xong D rủ mọi người đi hát và sử dụng ma túy tại quán Karaoke ở Thôn L C, xã S L, huyện B X, tỉnh Vĩnh Phúc. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, Công an huyện Bình Xuyên kiểm tra, phát hiện, thu trên mặt bàn trong phòng hát Vip 1 khối lượng 2,3948 gam (đây là số ma túy D đã mua trước đó ở Hà Nội).
* Vật chứng thu giữ: 01 túi zip màu trắng bên trong chứa nhiều mảnh viên nén, chất bột màu xám, không rõ hình dạng, kích thước (theo D khai là ma tuý “kẹo”) kích thước 8 x 5 cm được niêm phong theo quy định, kí hiệu A; 01 đĩa sứ màu trắng, đường kính 25,5cm có bám dính chất bột màu trắng được niêm phong theo quy định, kí hiệu A1; 01 đĩa gỗ màu vàng, kích thước (30 x 20 x 01) cm có bám dính chất bột màu trắng niêm phong theo quy định, kí hiệu A2; 01 thẻ cứng màu cam, kích thước 05 x 2,5 cm có bám dính chất bột màu trắng niêm phong theo quy định, kí hiệu A3; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ, được cuộn tròn dạng ống hút niêm phong theo quy định, kí hiệu A4; 01 bật lửa khò kim loại ốp nhựa, kích thước 07 x 4,5 x 2,5 cm.
* Các kết luận giám định:
Tại Bản kết luận giám định số: 2260/KL-KTHS ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận: Nhiều mảnh viên nén màu xám của mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,3948g (hai phảy ba chín bốn tám gam, không kể bao bì) loại MDMA.
Tại bản kết luận giám định số 2261/KL-KTHS cùng ngày 07/8/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Chất bám dính trên mẫu vật A1, A2, A3, A4 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine.
Tại các Kết luận giám định số: 2270, 2271, 2272 cùng ngày 08/8/2024 và số 2303, 2304, 2305, 2306, 2307 cùng ngày 10/8/2025 đều kết luận: Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Văn Ng , Lê Văn Ngh , Nguyễn Thị L , Nguyễn Văn D , Phương Tố Ng , Nguyễn Thị Th , Đào Thị Thanh Ch , Cầm Thị T .
Tại Cáo trạng số 78/CT-VKSBX ngày 10 tháng 6 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố các bị cáo Nguyễn Văn D , Phương Tố Ng , Nguyễn Văn Ng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b,c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng truy tố.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày bản luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù chung của cả hai tội là 09 năm 06 tháng đến 10 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03/8/2024.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phương Tố Ng từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03/8/2024.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ng từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03/8/2024.
Ngài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo; đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên; không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hình phạt nhẹ nhất để các bị cáo sớm trở về chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử được thực hiện đầy đủ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn D , Phương Tố Ng và Nguyễn Văn Ng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập khách quan, đúng pháp luật, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 02/8/2024, tại phòng Vip 1 của quán karaoke (không có biển hiệu) của chị Nguyễn Thị H địa chỉ tại Thôn L C, xã S L, huyện B X, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Văn D , Phương Tố Ng và Nguyễn Văn Ng đã có hành vi chuẩn bị địa điểm, cung cấp ma túy, chuẩn bị công cụ tổ chức cho chính các bị cáo cùng 05 người khác, gồm: Cầm Thị T , Nguyễn Thị Th , Lê Văn Ngh , Đào Thị Thanh Ch , Nguyễn Thị L sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an huyện Bình Xuyên bắt cùng toàn bộ tang vật. Hành vi của Nguyễn Văn D , Phương Tố Ng , Nguyễn Văn Ng tổ chức cho Cầm Thị T , Nguyễn Thị Th , Lê Văn Ngh , Đào Thị Thanh Ch , Nguyễn Thị L cùng sử dụng trái phép chất ma túy đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
Đối với khối lượng 2,3948g ma túy MDMA (D đã mua ở Hà Nội trước đó và tàng trữ để sử dụng): Sau khi D có hành vi tổ chức sử dụng trái phép cho các đối tượng thì các đối tượng đều đã thỏa mãn bản thân hay như cách nói của các đối tượng dùng ma túy là “phê” và không thể sử dụng ngay được nữa nên khối lượng 2,3948g ma túy MDMA còn lại do cơ quan điều tra thu giữ được trên bàn là của Nguyễn Văn D . Do đó hành vi của D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Do vậy, việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên truy tố các bị cáo về những tội danh trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan.
. Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi chuẩn bị ma túy, rủ rê, tụ tập đông người và cung cấp ma túy để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác của Nguyễn Văn D , Phương Tố Ng và Nguyễn Văn Ng ; hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng của Nguyễn Văn D là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý và sử dụng chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm suy kiệt sức khỏe và gây hại đến chất lượng giống nòi, gây suy thoái đạo đức, lối sống, nhân phẩm của con người và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Do vậy, cần phải xử phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo mới tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội để có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa loại tội phạm này tại địa phương.
. Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Mặc dù Nguyễn Văn D và Phương Tố Ng có nhân thân xấu nhưng quá trình điều tra và tại phiên tòa tất các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra Nguyễn Văn D , Phương Tố Ng có hoàn cảnh gia đình khó khăn: Trước khi bị bắt, D và Nguyên đều là lao động chính trong gia đình; vợ của các bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định và cả hai bị cáo đều có 03 con nhỏ đang ở độ tuổi ăn học (con của bị cáo D lớn nhất học lớp 5 và nhỏ nhất học lớp 1; con của bị cáo Nguyên lớn nhất học lớp 7 và nhỏ nhất mới được 18 tháng tuổi) vì vậy việc nuôi dưỡng, giáo dục 03 con nhỏ và phụng dưỡng bố mẹ già là gánh nặng đối với vợ của các bị cáo; Nguyễn Văn Ng có ông nội là liệt sỹ Nguyễn Văn Vấn nên thuộc trường hợp gia đình có công với cách mạng. Do đó các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS nên khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ xem xét để quyết định mức hình phạt phù hợp vừa thể hiện sự nghiêm minh nhưng cũng thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, giúp các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo để sớm trở về giúp đỡ gia đình, ổn định cuộc sống.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Nguyễn Văn D có 01 tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này là “tái phạm”, vì vậy D phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Các bị cáo Phương Tố Ng , Nguyễn Văn Ng không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Xét vai trò phạm tội của từng bị cáo, thấy rằng: Nguyễn Văn D là người khởi xướng, cung cấp ma túy, chia ma túy “kẹo”, xào ma túy “ke” để các đối tượng sử dụng; ngoài ra D còn có hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng; Phương Tố Ng và Nguyễn Văn Ng là đồng phạm với vai trò giúp sức, cụ thể: Theo sự chỉ đạo của D , Nguyên chuẩn ống hút cho các đối tượng khác sử dụng ma túy; Nguyễn Văn Ng là nhân viên quản lý của quán, biết các đối tượng sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật nhưng không có hành động ngăn cản, từ chối mà lại cho các đối tượng sử dụng ma túy tại quán hát hơn nữa Ngọc còn chuẩn bị dụng cụ cho các đối tượng sử dụng.
Thấy rằng, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị là có căn cứ, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi quyết định đối với từng bị cáo nhằm tương xứng với tính chất, mức độ, vai trò phạm tội và nhân thân của họ.
. Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định các bị cáo không có tài sản, thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
. Về vật chứng của vụ án: Đối với tài sản là 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng được sử dụng vào việc phạm tội thì cần tịch thu, sung quỹ nhà nước; đối với vật chứng sử dụng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng, không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu để tiêu hủy.
. Trong vụ án này còn có các hành vi sau:
Đối với Lê Văn Ngh , Nguyễn Thị L , Nguyễn Thị Th , Cầm Thị T , Đào Thị Thanh Ch , quá trình điều tra xác định: Nghĩa, Lại, Thu, Tuyền, Chung có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tuy nhiên khi các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì Nghĩa, Lại, Thu, Tuyền, Chung không có hành vi giúp sức hoặc góp tiền mua ma túy cho các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên CQĐT không đề cập xử lý. Công an huyện Bình Xuyên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 361, 362, 363, 364, 365 cùng ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với Lê Văn Ngh , Nguyễn Thị L , Nguyễn Thị Th , Cầm Thị T , Đào Thị Thanh Ch theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xét.
- Đối với Lường Văn N : Quá trình điều tra xác định Niệm không biết, không bàn bạc, không tham gia chuẩn bị công cụ, phương tiện, không giúp sức cho các đối tượng tổ chức sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
- Đối với chị Nguyễn Thị H : Quá trình điều tra xác định chị Hòa không quản lý trực tiếp tại cơ sở, không biết các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng hát, không tham gia giúp sức cho các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không đồng phạm với các đối tượng về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, trong hoạt động kinh doanh có sơ hở, để xảy ra việc các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại cơ sở của mình nên Cơ quan điều tra có văn bản chuyển hồ sơ đến Đội Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Công an huyện Bình Xuyên để xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
- Về nguồn gốc số ma túy MDMA và Ketamine các đối tượng sử dụng tại phòng Vip1, quá trình điều tra D khai mua của một người nam giới không quen biết ở khu vực quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội để sử dụng, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh, làm rõ để xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét là có căn cứ.
. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn D , Phương Tố Ng , Nguyễn Văn Ng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Nguyễn Văn D 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù chung của cả hai tội là 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2024.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phương Tố Ng 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2024.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ng 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ Luật tố Tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 08 mẫu trả nước tiểu; 01 túi zip màu trắng bên trong có các mảnh viên nén, chất bột màu xám (ma túy MDMA); 01 đĩa sứ màu trắng 01 đĩa gỗ màu vàng; 01 thẻ cứng màu cam sau giám định của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc; 01 bật lửa khò kim loại ốp nhựa.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 tẩu hút được cuốn thành ống bằng 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng.
Vật chứng có đặc điểm cụ thể như Biên bản bàn giao vật chứng ngày 10/02/2025 giữa Công an huyện Bình Xuyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn D , Phương Tố Ng , Nguyễn Văn Ng mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện Bình Xuyên; - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Phòng THA HS và HTTP - Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Chi cục THADS huyện Bình Xuyên; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ vụ án; Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Phương Dung |