- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự bị cáo Th - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Thanh Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PH TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2022/HSST Ngày: 28-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PH, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Vĩnh Mậu.
2. Bà Trần Thị Minh Thâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hồng Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 99/2022/TLST- HS, ngày 23 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 245/2022/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
- Hà Thanh Th, sinh năm 1980; nơi sinh huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định; nơi cư trú khu phố Vân H 2, thị trấn Diêu Tr, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp Thợ hồ; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Thanh H (Chết) và bà Lê Thị Bích Th; vợ là chị Bùi Thị Ng, sinh năm 1980; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Vào ngày 28 tháng 8 năm 2012 bị Toà án nhân dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định xử phạt 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Cố ý gây Th tích” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2012/HSST ngày 28 tháng 8 năm 2012; ngày 12 tháng 10 năm 2020 bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn Diêu Tr, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định xử phạt 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Xâm phạm đến sức khoẻ của người khác”. Bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Nguyễn Hồng Th, sinh năm 1984; nơi cư trú thôn Ngọc Thạnh 1, xã Phước An huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị X, sinh năm 1973; nơi cư trú khu phố Vân H 2, thị trấn Diêu Tr, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 02/4/2022, bị cáo Hà Thanh Th cho anh Nguyễn Hồng Th vay số tiền 10.000.000 đồng. Ngày 10/4/2022, anh Th trả cho bị cáo Th số tiền 2.500.000 đồng; đến ngày 17/4/2022 anh Th tiếp tục trả cho bị cáo Th số tiền 3.500.000 đồng, còn nợ số tiền 4.000.000 đồng. Ngày 07/5/2022, bị cáo Th đòi anh Th trả nợ cho mình số tiền trên nhưng anh Th chưa trả.
Khoảng 10 giờ ngày 08/5/2022, bị cáo Th nhậu cùng với một người tên Dưỡng nhưng không rõ nhân thân, lai lịch tại quán nhậu 156 ở thị trấn Diêu Tr, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, bị cáo Th nhờ Dưỡng chở mình đi công việc thì Dưỡng đồng ý. Sau đó, bị cáo Th chỉ đường cho Dưỡng chở mình đi đến nhà anh Th ở thôn Ngọc Thạnh 1, xã Phước An, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định. Khi đến nhà anh Th, Dưỡng đứng đợi bên ngoài cổng, còn bị cáo Th đi vào nhà anh Th. Khi vào bên trong nhà anh Th, bị cáo Th thấy không có ai ở nhà, trong nhà có dựng 01 chiếc xe máy nhãn hiệu ALLY, màu sơn đen, chưa đăng ký biển số nên nảy sinh ý định trộm cắp. Lúc này, bị cáo Th nhìn qua bên cửa sổ thì thấy có một chùm chìa khóa, bị cáo Th lấy chùm chìa khóa này và đút lần lượt từng chìa khóa vào ổ khóa xe máy để mở khóa nhưng không mở được; bị cáo Th bỏ chùm chìa khóa này vào chỗ cũ thì thấy có một chiếc chìa khóa nằm riêng lẻ cạnh đó nên lấy chiếc chìa khóa này đút vào ổ khóa xe máy thì mở được ổ khóa, xe máy có tín hiệu đèn; bị cáo Th dắt chiếc xe máy này ra khỏi nhà anh Th rồi điều khiển chiếc xe máy này cùng Dưỡng về lại quán nhậu 156 ở thị trấn Diêu Tr, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định tiếp tục nhậu. Bị cáo Th và Dưỡng nhậu đến khoảng 18 giờ cùng ngày thì Dưỡng đi về, bị cáo Th một mình điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu ALLY vừa trộm cắp được tại nhà anh Th đến nhà bà Lê Thị Xuân. Tại nhà bà Xuân, bị cáo Th mượn của bà Xsố tiền 5.500.000 đồng và để lại chiếc xe máy nhãn hiệu ALLY trên cho bà Xuân.
Theo Bản kết luận định giá tài sản số 164/KL-HĐĐGTS ngày 07/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tuy Ph kết luận thì chiếc xe máy nhãn hiệu ALLY, màu sơn đen, số máy 000500, số khung 000500, dung tích xi lanh 49,5cm3. Xe mua mới vào ngày 06/5/2022, chưa đăng ký biển số tại thời điểm bị xâm phạm có giá trị thành tiền là 14.200.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Ph đã xử lý vật chứng trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu ALLY nêu trên cho anh Nguyễn Hồng Th, anh Th không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Tại bản Cáo trạng số 67/CT-VKS-TP ngày 15 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Hà Thanh Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định.
Đối với người đàn ông tên Dưỡng theo bị cáo Hà Thanh Th trình bày thì bị cáo Th và Dưỡng chỉ quen biết ngoài xã hội; bị cáo Th chỉ biết Dưỡng ở Phú Yên còn nhân thân, lai lịch và địa chỉ cụ thể của Dưỡng thì Th không biết; vào 08/5/2022, Th chỉ nhờ Dưỡng chở đi công việc, không nhờ Dưỡng chở đến nhà anh Nguyễn Hồng Th để trộm cắp tài sản. Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Ph không làm việc được với Dưỡng, tuy nhiên căn cứ vào lời trình bày của bị cáo Hà Thanh Th có đủ cơ sở để xác định Dưỡng không đồng phạm với bị cáo Hà Thanh Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đối với bà Lê Thị Xlà người cho Hà Thanh Th mượn số tiền 5.500.000 đồng, khi Th để lại chiếc xe máy nhãn khi Th để lại chiếc xe máy nhãn hiệu ALLY cho bà Xthì bà Xkhông biết chiếc xe máy này do bị cáo Th trộm cắp mà có; mặt khác, việc bị cáo Th để lại chiếc xe máy trên là chủ ý của bị cáo Th chứ bà Xkhông yêu cầu nên bà Xkhông phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Ph không xử lý hình sự đối với bà Lê Thị Xlà có căn cứ, đúng pháp luật.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Thanh Th phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Hà Thanh Th với mức hình phạt từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo Hà Thanh Th nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của bị cáo, bị cáo không dám tái phạm, lần này là lần cuối cùng bị cáo phạm tội, xin Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định tại phiên tòa căn cứ vào các chứng cứ mà Cơ quan điều tra Công an huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định đã thu thập và đã được kiểm tra tại phiên tòa để xác định với mục đích chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Hồng Th để trừ đi số tiền mà anh Nguyễn Hồng Th còn nợ của bị cáo Hà Thanh Th nên ngày 08 tháng 5 năm 2022, bị cáo Hà Thanh Th thực hiện hành vi trộm cắp tài sản chiếc xe máy nhãn hiệu ALLY của anh Nguyễn Hồng Th tại nhà của anh Nguyễn Hồng Th, địa chỉ thôn Ngọc Thạnh 1, xã Phước An huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định.
Bị cáo Hà Thanh Th không tranh luận gì với Kiểm sát viên và cũng không đưa ra chứng cứ nào để bào chữa cho hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Ph đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với những chứng cứ đã thu thập nên lời khai nhận tội của bị cáo là có căn cứ.
Xét tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Hà Thanh Th là người có khả năng nhận thức được hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội và nhận thức được hậu quả của hành vi đó sẽ gây thiệt hại đến tài sản của người khác. Nhận thức được như vậy nhưng vì bị cáo muốn chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Hồng Th để trừ đi số tiền mà anh Nguyễn Hồng Th còn nợ của bị cáo nên bị cáo thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của chiếc xe máy nhãn hiệu ALLY của anh Nguyễn Hồng Th. Tài sản mà bị cáo trộm cắp có giá trị 14.200.000 đồng nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện hành vi cố ý xâm phạm đến tài sản của người khác; hành vi của bị cáo thực hiện gây mất an ninh, trật tự nơi xảy ra vụ án.
Xét các tình tiết tăng nặng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân người phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cụ thể tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo phạm tội không tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân không tốt, cụ thể bị cáo đã bị Toà án xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây Th tích” và bị xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm phạm đến sức khoẻ của người khác”.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, lẻ ra xử phạt tù có thời hạn đối với bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc nhưng xét thấy bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như trên. Do đó khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo nhằm mục đích giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Xét về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Ph đã ra Quyết định xử lý vật chứng đã trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu ALLY cho bị hại anh Nguyễn Hồng Th. Anh Nguyễn Hồng Th không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Xét về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Xét về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Hà Thanh Th phải chịu số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với người đàn ông tên Dưỡng theo bị cáo Hà Thanh Th trình bày thì bị cáo Th và Dưỡng chỉ quen biết ngoài xã hội; bị cáo Th chỉ biết Dưỡng ở Phú Yên còn nhân thân, lai lịch và địa chỉ cụ thể của Dưỡng thì Th không biết. Vào ngày 08/5/2022, bị cáo Th chỉ nhờ Dưỡng chở đi công việc, không nhờ Dưỡng chở đến nhà anh Nguyễn Hồng Th để trộm cắp tài sản. Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Ph không làm việc được với Dưỡng nên chưa có căn cứ xác định Dưỡng có đồng phạm với bị cáo Hà Thanh Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự hay không.
Đối với bà Lê Thị Xlà người cho Hà Thanh Th mượn số tiền 5.500.000 đồng, khi Th để lại chiếc xe máy nhãn khi Th để lại chiếc xe máy nhãn hiệu ALLY cho bà Xthì bà Xkhông biết chiếc xe máy này do bị cáo Th trộm cắp mà có; mặt khác, việc bị cáo Th để lại chiếc xe máy trên là chủ ý của bị cáo Th chứ bà Xkhông yêu cầu nên bà Xkhông phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Ph không xử lý hình sự đối với bà Lê Thị Xlà có căn cứ, đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Thanh Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hà Thanh Th 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành hình phạt tù.
3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại anh Nguyễn Hồng Th đã nhận lại tài sản chiếc xe máy nhãn hiệu ALLY; anh Nguyễn Hồng Th không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Hà Thanh Th phải chịu số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 28 tháng 12 năm 2022). Bị hại anh Nguyễn Hồng Th; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Xcó quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định;
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở Tư pháp tỉnh Bình Định;
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định;
- Công an huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định;
- Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định;
- Bị cáo;
Văn Công Minh
- Bị hại;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
- Lưu hồ sơ vụ án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Định; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định; - Công an huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Công Minh |