vanban.org

Bản án 915/2017/PT-HS — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 15/12/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/12/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn V - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự và Nghị; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----------------
Bản án số: 915/2017/PT-HS
Ngày: 15/12/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Nam Hà.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Phổ và ông Hoàng NT.

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Tuấn Dũng - Thư ký Tòa án.

- Đại diện V kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Liễu - Kiểm sát viên.

Ngày 15/12/2017 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 881/2017/TLPT-HS ngày 09/11/2017 đối với bị cáo Đỗ Văn V do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 144/2017/ST-HS ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân quận TH, thành phố Hà Nội.

Bị cáo có kháng cáo: ĐỖ VĂN V, sinh năm 1990; ĐKNKTT: Thôn TT, xã TH, huyện YM, tỉnh Hưng Yên; tạm trú tại: Số 101 đường AU, phường N, quận TH, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Đỗ Văn V và bà Đặng Thị Nh; có vợ là Trần Thị Kim T và 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015; tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2012/HSST ngày 06/6/2012 của Tòa án nhân dân huyện YM, tỉnh Hưng Yên xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 50 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”; tiền sự: Chưa; bị tạm giữ từ ngày 25/5/2017 đến ngày 03/6/2017; hiện tại ngoại. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Khắc Hải - Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Việt Dũng - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

1/4

Người bị hại không kháng cáo: Chị Trần Thị L, sinh năm 1970; trú tại: Số 50, cụm 2, phường N, quận TH, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 24/5/2017, Đỗ Văn V đưa con lớn là cháu Đỗ Gia Huy đi học tại Cơ sở 2 Trường mầm non NT, quận TH. Sau đó, V đi sang Cơ sở 1 đến phòng chị Trần Thị L là Hiệu trưởng Trường mầm non NT để xin học cho con nhỏ là cháu Đỗ Hải Nam. Khi đến phòng chị L, V thấy cửa mở, không có người nên nảy sinh ý định trộm cắp. V vào phòng lục túi xách màu trắng sữa của chị L lấy toàn bộ số tiền trong ví rồi ra về. Đến khoảng 14 giờ, V mang số tiền ra đếm được 5.500.000 đồng và đưa cho vợ là chị Trần Thị Kim T tổng cộng 6.000.000 đồng. Thông qua các biện pháp nghiệp vụ và hình ảnh do camera của Nhà trường ghi lại, đến khoảng 19 giờ ngày 25/5/2017, Cơ quan điều tra đã bắt giữ V; chị T đã nộp lại số tiền 6.000.000 đồng.

Với nội dung trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số 144/2017/HS-ST ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân quận TH đã áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Đỗ Văn V 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngoài ra bản án hình sự sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 09/10/2017, bị cáo Đỗ Văn V có đơn kháng cáo đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa: Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi; nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ các Điều 231; Điều 234; điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của Đỗ Văn V về hình thức, không chấp nhận kháng cáo về nội dung, giữ nguyên hình phạt 12 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

2/4

Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định bị cáo Đỗ Văn V kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận. Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án, bị cáo đã mời Luật sư Lê Khắc Hải thuộc Văn phòng luật sư Việt Dũng - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội bào chữa cho bị cáo. Tại phiên tòa hôm nay, Luật sư Lê Khắc Hải có đơn xin hoãn phiên tòa vì lý do phải tham gia một phiên tòa khác. Bị cáo Đỗ Văn V từ chối Luật sư bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, bị cáo tự bào chữa cho mình. Căn cứ Điều 57 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 24/5/2017 tại phòng làm việc của Hiệu trưởng Trường mầm non NT, quận TH, Đỗ Văn V đã lén lút chiếm đoạt 5.500.000 đồng của chị Trần Thị L. Hành vi trên của Đỗ Văn V bị Tòa án cấp sơ thẩm kết án về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo đã từng bị kết án, chưa được xóa án tích, phạm tội lần này thuộc trường hợp tăng nặng “Tái phạm” theo điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự nên việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là cần thiết. Tuy nhiên, tài sản bị cáo chiếm đoạt không lớn và đã được thu hồi trả ngay cho người bị hại nên thuộc trường hợp “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại”; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là bộ đội, từng làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia, là thương binh hạng 4/8, là người có công với cách mạng, đây là tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là đúng nhưng chưa đủ; Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng thêm điểm g khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo, giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

3/4

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án thì bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn V, cụ thể:

- Áp dụng khoản 1 Điều 138; các điểm g, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, xử phạt Đỗ Văn V 08 (Tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đầu thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ (từ ngày 25/5/2017 đến ngày 03/6/2017).

- Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ