vanban.org

Bản án 91/2025/LĐ-ST — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thảo L về việc “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng lao động” với bị đơn Công ty TNHH MTV S.

1. Tuyên bố vô hiệu hợp đồng lao động được xác lập giữa bà Nguyễn Thị Diễm H1 (nhưng trên hợp đồng lao động ghi tên là bà Nguyễn Thị Thảo L) với Công ty TNHH MTV S từ tháng 12/2012 đến tháng 8/2014. 2. Điều chỉnh sổ bảo hiểm xã hội số 8012085715 cấp cho bà Nguyễn Thị Thảo L do Công ty TNHH MTV S nộp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Nguyễn Thị Thảo L "tranh chấp vô hiệu HĐLĐ, điều chỉnh sổ bảo hiểm xã hội" Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thảo L về việc “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng lao động” với bị đơn Công ty TNHH MTV S.
  • Căn cứ chính? Điều 13 Bộ luật Lao động; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 91/2025/LĐ-ST
Ngày: 30-5-2025
V/v “Tranh chấp yêu cầu tuyên
bố vô hiệu hợp đồng lao động”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Công Lập – Chủ tịch công đoàn Công ty TNHH Shilla Bags

2. Bà Nguyễn Thị Rạt – Cán bộ hưu trí, nguyên Phó Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Đức Hòa.

Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Tùng Khương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 06/2025/TLST-LĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025 về việc tranh chấp “yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng lao động” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2025/QĐXXST-LĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thảo L, sinh năm 1991

Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Hoài P, sinh năm 1988

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.

(Văn bản ủy quyền ngày 08/01/2025) (có đơn xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S (gọi tắt là Công ty TNHH MTV S)

Địa chỉ trụ sở: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Văn H (vắng mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. 1. Bà Nguyễn Thị Diễm H1, sinh năm 1993

Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (có đơn xin vắng mặt).

3.2. 2. Bảo hiểm xã hội (BHXH) huyện Đ

Địa chỉ trụ sở: Ô, Khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thị Thu H2 - Chức vụ: Giám đốc (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/01/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thảo L và người đại diện theo ủy quyền ông Võ Hoài P trình bày:

Từ tháng 3/2011 đến tháng 02/2025, bà làm việc tại Công ty TNHH K (Túi), quá trình lao động bà tham gia BHXH với số sổ 8011011096.

Bà với bà Nguyễn Thị Diễm H1 là chị em, do gia đình gặp khó khăn về kinh tế và bà H1 muốn đi làm để tạo thu nhập lo cho gia đình nên bà Nguyễn Thị Diễm H1 có hỏi mượn bà giấy chứng minh nhân dân (giấy CMND) mang tên Nguyễn Thị Thảo L để bà H1 đi làm tại Công ty TNHH MTV S trong khoảng thời gian từ tháng 12/2012 đến tháng 8/2014. Khi bà H1 mang tên bà Nguyễn Thị Thảo L làm việc tại Công ty TNHH MTV S thì bà H1 có tham gia bảo hiểm xã hội với số sổ bảo hiểm mang tên Nguyễn Thị Thảo L là 8012085715.

Việc bà L cho bà H1 mượn CMND là không đúng quy định pháp luật và người thực hiện hợp đồng lao động với Công ty TNHH MTV S từ tháng 12/2012 đến tháng 8/2014 không phải do bản thân bà L thực hiện. Hiện nay tồn tại sổ bảo hiểm của bà Nguyễn Thị Thảo L và sổ bảo hiểm số 8012085715 mang tên Nguyễn Thị Thảo L nhưng do bà Nguyễn Thị Diễm H1 làm việc nên bà L không thể thực hiện việc chốt sổ bảo hiểm đối với số sổ bảo hiểm của bà và hưởng chế độ theo quy định.

Theo công văn 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2021 của Bộ L1 Xã hội thì trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc trung thực và đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu. Thẩm quyền tuyên bố hợp đồng vô hiệu và xử lý hợp đồng vô hiệu thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân. Do đó bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Diễm H1 (nhưng trên hợp đồng lao động ghi tên là bà Nguyễn Thị Thảo L) với Công ty TNHH MTV S từ tháng 12/2012 đến tháng 8/2014 vô hiệu.

- Điều chỉnh sổ bảo hiểm xã hội số 8012085715 cấp cho bà Nguyễn Thị Thảo L do Công ty TNHH MTV S nộp từ tháng 12/2012 đến tháng 8/2014 tại Bảo hiểm xã hội huyện Đ, tỉnh Long An thành tên bà Nguyễn Thị Diễm H1.

- Bà Nguyễn Thị Thảo L được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội theo các hợp đồng lao động được xác lập và thực hiện với số sổ bảo hiểm xã hội 8011011096.

- Bà Nguyễn Thị Diễm H1 được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội theo hợp đồng lao động được xác lập giữa bà Nguyễn Thị Diễm H1 với Công ty TNHH MTV S theo sổ bảo hiểm xã hội số 8012085715 đã được điều chỉnh.

Ngoài ra, bà L không có yêu cầu gì khác.

Bị đơn Công ty TNHH MTV S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án bất kỳ văn bản nào nêu ý kiến cũng như tài liệu chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Diễm H1 trình bày:

Do bản thân không am hiểu về pháp luật, muốn đi làm để tạo thu nhập lo cho gia đình nên bà có mượn giấy CMND của Nguyễn Thị Thảo L để đi làm tại Công ty TNHH MTV S từ tháng 12/2012 đến tháng 8/2014. Khi làm việc tại Công ty TNHH MTV S từ tháng 12/2012 đến tháng 8/2014 thì bà có tham gia bảo hiểm xã hội với số sổ bảo hiểm mang tên Nguyễn Thị Thảo L là 8012085715. Trước yêu cầu của bà L, bà đồng ý vô hiệu hợp đồng lao động giữa bà với Công ty TNHH MTV S từ tháng 12/2012 đến tháng 8/2014 do không đúng nhân thân và yêu cầu được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội theo hợp đồng lao động được xác lập giữa bà với Công ty TNHH MTV S theo Sổ bảo hiểm xã hội mã số 8012085715 đã được điều chỉnh. Ngoài ra, bà không còn ý kiến và yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã H, tỉnh Long An có văn bản trình bày:

Căn cứ hồ sơ, dữ liệu quản lý thu - số thẻ và dữ liệu chi trả các chế độ chính sách BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ, BNN). BHXH huyện Đ cung cấp các thông tin về thời gian đóng BHXH, BHTN của bà Nguyễn Thị Thảo L từ tháng 12/2012 đến tháng 8/2014 trên số số 8012085715 tại Công ty TNHH MTV S, địa chỉ Ấp B, Đức Hòà H3, Đ, Long An.

Qua tra cứu dữ liệu chi trả các chế độ chính sách BHXH, BHTN tại BHXH huyện Đ đến ngày 14/02/2025 bà Nguyễn Thị Thảo L, mã số BHXH 8012085715 chưa hưởng chế độ BHXH 1 lần.

Bà Nguyễn Thị Thảo L, CCCD xxxxxxxxxxxx, còn có mã số BHXH 8011011096 tham gia BHXH tại Công ty TNHH K (Túi), địa chỉ: ấp B, Đức Hòà H3, Đ, Long An, quá trình tham gia từ tháng 3/2011 đến nay 02/2025.

Như vậy quá trình tham gia BHXH của bà Nguyễn Thị Thảo L bị trùng từ 12/2012 đến tháng 08/2014 là 1 năm 9 tháng.

Đối với trường hợp mượn hồ sơ của người khác để ký Hợp đồng lao động, Hợp đồng làm việc và tham gia BHXH, BHTN và BHYT. BHXH huyện Đ thực hiện theo nội dung Công văn 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 của Bộ L1 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động; Thông báo số 357/TB-TA ngày 17/4/2024 của Tòà án nhân tỉnh Long An; Căn cứ vào bản án đã có hiệu lực của Tòa án.

BHXH huyện Đ với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của TAND huyện Đức Hòa đối với vụ án trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Về trình tự thủ tục đảm bảo theo quy định của tố tụng trong việc thu thập chứng cứ, xác minh. Toà án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ và quyền hạn. Các bên đương sự thực hiện đúng tố tụng về quyền và nghĩa vụ.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thảo L về việc vô hiệu hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Thảo L (do bà Nguyễn Thị Diễm H1 làm việc) với Công ty TNHH MTV S từ tháng 12/2012 đến tháng 8/2014 do hợp đồng được ký kết không đúng với nhân thân, vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại Điều 15 Bộ luật Lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động và điều chỉnh tên Nguyễn Thị Thảo L trên sổ bảo hiểm xã hội số 8012085715 thành tên Nguyễn Thị Diễm H1 cho đúng người lao động thực tế tại công ty để các bên được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội theo hợp đồng lao động được xác lập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thảo L nêu trên, Hội đồng xét xử thấy quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án là “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng lao động”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 5 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự. Công ty TNHH MTV S có trụ sở tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tư cách tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thảo L là người khởi kiện được xác định là nguyên đơn, Công ty TNHH MTV S là người bị kiện được xác định tư cách là bị đơn. Bà Nguyễn Thị Diễm H1 và BHXH huyện Đ, tỉnh Long An được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[1.3] Thời hiệu khởi kiện: Các bên đương sự không yêu cầu áp dụng về thời hiệu nên căn cứ quy định tại Điều 190 Bộ luật Lao động năm 2019, Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không áp dụng thời hiệu.

Về sự có mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thảo L,, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Diễm H1, đại diện BHXH tỉnh L có ý kiến được xét xử vắng mặ và bị đơn Công ty TNHH MTV S đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thảo L về việc yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Diễm H1 với Công ty TNHH MTV S từ tháng 12/2012 đến tháng 8/2014, thấy rằng: Bà Nguyễn Thị Thảo L có cho bà Nguyễn Thị Diễm H1 mượn chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị Thảo L để xác lập hợp đồng lao động và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 12/2012 đến tháng 8/2014 tại Công ty TNHH MTV S theo sổ BHXH số 8012085715. Trong khi đó, bà Nguyễn Thị Thảo L cũng tham gia lao động tại các công ty khác và tham gia bảo hiểm xã hội với sổ BHXH số 8011011096 từ tháng 3/2011 đến tháng 02/2025. Việc bà Nguyễn Thị Thảo L cho bà Nguyễn Thị Diễm H1 mượn giấy chứng minh nhân dân để đi làm tại Công ty TNHH MTV S là vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Do đó, bà Nguyễn Thị Thảo L yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Diễm H1 nhưng trên hợp đồng lao động ghi tên là bà Nguyễn Thị Thảo L với Công ty TNHH MTV S từ tháng 12/2012 đến tháng 8/2014 là có căn cứ, phù hợp với điểm b khoản 1 Điều 49 Bộ luật Lao động nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bởi vì người lao động thực tế trong giai đoạn này tại Công ty TNHH MTV S là bà Nguyễn Thị Diễm H1 không phải là bà Nguyễn Thị Thảo L. Đồng thời, để bảo đảm quyền lợi cho người lao động đã tham gia hợp đồng lao động bị vô hiệu nêu trên, cần điều chỉnh sổ bảo hiểm xã hội số 8012085715 cấp cho bà Nguyễn Thị Thảo L do Công ty TNHH MTV S nộp từ tháng 12/2012 đến tháng 8/2014 tại Bảo hiểm xã hội tỉnh L thành tên bà Nguyễn Thị Diễm H1. Bà Nguyễn Thị Thảo L và bà Nguyễn Thị Diễm H1 được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội theo các hợp đồng lao động thực tế được xác lập và thực hiện theo quy định.

Đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Thảo L tự nguyện chịu toàn bộ án phí lao động sơ thẩm nên Công ty TNHH MTV S không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 32, Điều 35, Điều 39, Điều 68, Điều 91, Điều 93, Điều 97, Điều 147, Điều 184, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 13, Điều 15, Điều 16, Điều 18, Điều 21, Điều 49 và Điều 190 Bộ luật Lao động; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thảo L về việc “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng lao động” với bị đơn Công ty TNHH MTV S.

1.1. Tuyên bố vô hiệu hợp đồng lao động được xác lập giữa bà Nguyễn Thị Diễm H1 (nhưng trên hợp đồng lao động ghi tên là bà Nguyễn Thị Thảo L) với Công ty TNHH MTV S từ tháng 12/2012 đến tháng 8/2014.

1.2. Điều chỉnh sổ bảo hiểm xã hội số 8012085715 cấp cho bà Nguyễn Thị Thảo L do Công ty TNHH MTV S nộp từ tháng 12/2012 đến tháng 8/2014 tại Bảo hiểm xã hội huyện Đ, tỉnh Long An thành tên bà Nguyễn Thị Diễm H1.

Bà Nguyễn Thị Thảo L được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội chưa lãnh với sổ bảo hiểm xã hội số 8011011096 theo hợp đồng lao động đã được xác lập và thực hiện theo quy định.

Bà Nguyễn Thị Diễm H1 được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội theo hợp đồng lao động được xác lập giữa bà Nguyễn Thị Diễm H1 với Công ty TNHH MTV S theo sổ bảo hiểm xã hội số 8012085715 từ tháng 12/2012 đến tháng 8/2014 đã được điều chỉnh.

2. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thảo L tự nguyện chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí lao động sơ thẩm nhưng khấu trừ 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004439 ngày 08/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Bà Nguyễn Thị Thảo L đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để xin xét xử phúc thẩm.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ