vanban.org

Bản án 91/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Tuyên án 27/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

T bố bị cáo Nguyễn Sĩ T (Nguyễn Sĩ T1) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Sĩ T (Nguyễn Sĩ T1) 4 (bốn) năm tù giam, thời gian thụ hình tính từ ngày 23/04/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Sỹ T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? T bố bị cáo Nguyễn Sĩ T (Nguyễn Sĩ T1) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI SƠN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_______________
Bản án số: 91/2018/HSST
Ngày: 27/9/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN- TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Bùi Thị Kiều Anh

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Quốc Quân và ông Cầm Văn Tổ

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huế –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Trường- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2018, tại Trụ sở tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 94/HSST ngày 8/8/2018; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2018/QĐXXST-HS ngày 14/9/2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Sĩ T; Tên gọi khác: Nguyễn Sĩ T1; Sinh ngày: 05/10/1989 tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội; Nơi ĐKNKTT: Thôn Q, xã Q1, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.Tạm trú: A, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Sỹ Z, sinh năm: 1968 cư trú tại thôn Q, xã Q1, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội và bà Phạm Kim Z, sinh năm: 1967 cư trú tại A, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/04/2018, giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La cho đến nay; Có mặt.

Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1984; Trú quán: Tiểu khu 9, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 15.4.2018, T đang ở nhà thì có người đàn ông tên Ý nhà ở huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam là bạn quen biết của T trước đây gọi điện thoại cho T, T đã hỏi Ý về số tiền 3.000.000VNĐ Ý nợ từ năm 2014 và nhờ Ý mua giúp 3.000.000VNĐ tiền Hồng phiến để trừ số tiền Ý nợ T, Ý đồng ý và hẹn sẽ gửi bạn đem Hồng phiến cho T.

Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 22.4.2018 khi T đang ở nhà thì có số điện thoại di động lạ gọi đến cho T và nói là bạn của Ý, người đó nói hồng phiến Ý gửi cho T cất giấu dưới gốc cây phượng ở khu vực gần nhà Văn hóa thuộc tiểu khu 1, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. T đón taxi đi đến nhà Văn Hóa tìm và thấy dưới gốc cây phượng 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “Thăng Long” bên trong có 01 gói nilon mầu trắng chứa hồng phiến. T cầm vỏ bao thuốc lá chứa gói ma túy cất giấu vào túi quần rồi đón taxi đi về nhà. Đến nhà T mở ra đếm được 48 viên Hồng phiến, sau đó T gói 28 viên hồng phiến vào mảnh giấy bạc mầu trắng và 20 viên hồng phiến vào mảnh giấy bạc mầu xanh rồi cho vào vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “BLUE SEA APPLE” mục đích để sử dụng dần, vỏ bao thuốc và mảnh nilon chứa ma túy ban đầu T đem đốt. Đến khoảng 00 giờ 10 phút, ngày 23.4.2018 T lấy gói ma túy cất giấu vào túi áo khoác đem theo bật lửa, 02 mảnh giấy bạc, 01 điếu tự chế rồi đón taxi đi đến nhà nghỉ “Nam Hải” thuộc tiểu khu 1, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn mục đích thuê phòng nghỉ để sử dụng ma túy nhưng nhà nghỉ “Nam Hải” đóng cửa. Khi T đang đứng trước nhà nghỉ “Nam Hải” để đón xe taxi thì gặp Nguyễn Văn T, sinh năm 1984 trú tại tiểu khu 9, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La là bạn quen biết, đang điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda, BKS: 26K1-123.62 đi qua, T gọi T lại rồi nhờ T chở đến nhà nghỉ “Phố Mới” ở tiểu khu 1, thị trấn Hát Lót. Đến nhà nghỉ “Phố Mới” T thuê phòng nghỉ 202 và rủ T lên phòng nghỉ chơi, sau khi lên phòng nghỉ khoảng 30 phút T vào nhà vệ sinh lấy ra 04 viên Hồng phiến từ gói giấy bạc mầu xanh rồi cất giấu số Hồng phiến còn lại vào túi áo khoác sau đó T quay ra phòng khách rủ T sử dụng Hồng phiến nhưng T nói không sử dụng, T đã dùng điếu tự chế, giấy bạc, bật lửa sử dụng hết 04 viên Hồng phiến. Đến khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, T tiếp tục vào nhà vệ sinh lấy 02 viên Hồng phiến từ gói giấy bạc mầu xanh ra sử dụng, sau đó T và T ngủ lại tại phòng.

Đến 16 giờ cùng ngày tổ công tác Công an huyện Mai Sơn tiến hành kiểm tra tại nhà nghỉ Phố Mới, quá trình kiểm tra tại phòng nghỉ 202, T đã tự giác giao nộp số hồng phiến còn lại đang cất giữ trong túi áo khoác của T để tại bàn uống nước trong phòng nghỉ, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Sĩ T và thu giữ toàn bộ vật chứng: 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu BLUE SEA APPLE bên trong chứa 02 thỏi, thỏi thứ nhất được gói bằng mảnh giấy bạc màu xanh, bên trong chứa 14 viên nén hình trụ mầu hồng, thỏi thứ hai được gói bằng mảnh giấy bạc màu trắng bên trong chứa 28 viên nén màu hồng trên mặt mỗi viên đều có ký hiệu “WY” nghi là ma tuý tổng hợp (hồng phiến) ; 02 mảnh giấy bạc màu trắng đã qua sử dụng bám dính chất màu đen; 01 bật lửa ga màu đỏ nhãn hiệu TANAKA; 01 vỏ trai nước màu trắng, nhãn hiệu AQUAOXYA, thân chai có gắn ống nhựa màu xanh kích thước khoảng 10cm, đường kính khoảng 0,5cm; tạm giữ của Nguyễn Sĩ T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1202, vỏ màu xanh; 01 chiếc áo khoác màu xanh, nhãn hiệu LiA KAPPA.

Ngày 23.4.2018 cơ quan CSĐT Công an huyện Mai Sơn phối hợp vớ i phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn L a tiến hành bóc mở niêm phong , cân tịnh, trích rút mẫu giám định đối với số ma túy đã thu giữ của Nguyễn Sĩ T. Kết quả: Tổng khối lượng 42 viên nén màu hồng, một mặt mỗi viên đều có ký hiệu “WY” là 4,21 gam, trích rút 0,52 gam (05 viên) ký hiệu M làm mẫu giám định.

Ngày 02.5.2018 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ra bản kết luận giám định số 239/KLMT, kết luận:

Mẫu gửi giám định ký hiệu M là chất ma tuý; Loại chất Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,52gam, Methamphetamine.

Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 4,21 gam, loại Methamphetamine.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo. Tại phiên toà không phát sinh tình tiết mới.

Tại bản cáo trạng số: 72/CT-VKSMS 7/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Sĩ T với nội dung: Truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Mai Sơn để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Sĩ T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Qua tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã phát biểu ý kiến, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Sĩ T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử phạt đối với bị cáo như sau:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Sĩ T (Nguyễn Sĩ T1) từ 4 năm đến 4 năm 6 tháng tù giam.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu huỷ: 3,69 gam methamphetamine; mảnh giấy gói ma túy ban đầu; vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu; 01 bật lửa ga nhãn hiệu TANAKA; 02 mảnh giấy bạc màu trắng đã qua sử dụng bám dính chất mầu đen; 01 vỏ chai nước lọc bằng nhựa trong suốt nhãn hiệu AQUAOXYA; 01 chiếc áo khoác màu xanh nhãn hiệu KAPPA.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA vỏ mầu xanh thu giữ của Nguyễn Sĩ T.

Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000VNĐ.

Bị cáo Nguyễn Sĩ T tự bào chữa: Nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố, và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiến nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 22.04.2018, Nguyễn Sĩ T mua trái phép 3.000.000VNĐ methamphetamine mục đích để sử dụng và ngày 23/4/2018 T bị tổ công tác Công an huyện Mai Sơn bắt quả tang thu giữ 4,21 gam methamphetamine.

Lời khai của bị cáo Nguyễn Sĩ T là hoàn toàn phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an huyện Mai Sơn lập hồi 16 giờ 15 phút ngày 23/04/2018; biên bản mở niêm phong, cân tịnh, trích rút mẫu giám định của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn lập hồi 19 giờ 30 phút ngày 23/04/2018, kết luận giám định số 536 ngày 27/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, biên bản hỏi cung đối với Nguyễn Sĩ T trong giai đoạn điều tra; phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đã có đầy đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Sĩ T đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Với việc Nguyễn Sĩ T tàng trữ 4,21 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Sĩ T tại bản cáo trạng số: 72/CT-VKSMS ngày 7/8/2018 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Điều 249 BLHS quy định: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

c) Heroine, Cocaine, Methaphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, làm tăng tệ nạn nghiện chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xét thấy: Bị cáo Nguyễn Sĩ T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy. Bản thân bị cáo có đủ năng lực nhận thức trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã phạm tội với lỗi cố ý. Quá trình điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sẽ được HĐXX xem xét áp dụng cho bị cáo.

Từ sự phân tích trên, căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đủ giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội, từ đó mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa những hành vi tương tự sẽ và đang xảy ra.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo sống phụ thuộc vào gia đình, không có việc làm, không có tài sản riêng, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng, xử lý vật chứng: Khi bắt quả tang bị cáo cơ quan điều tra thu giữ 4,21 gam Methamphetamine sau khi trích rút 0,52 gam methaphetamine làm mẫu giám định vật chứng còn lại là 3,69 gam methamphetamine, mảnh giấy gói ma túy ban đầu; vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu xét thấy là chất độc dược Nhà nước cấm lưu hành, vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 bật lửa ga nhãn hiệu TANAKA; 02 mảnh giấy bạc màu trắng đã qua sử dụng bám dính chất mầu đen; 01 vỏ chai nước lọc bằng nhựa trong suốt nhãn hiệu AQUAOXYA xét thấy là công cụ bị cáo sử dụng ma túy, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc áo khoác màu xanh nhãn hiệu KAPPA thu giữ của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo có ý kiến chiếc áo không còn giá trị sử dụng, dó đó cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA vỏ mầu xanh thu giữ của Nguyễn Sĩ T, xét thấy bị cáo sử dụng để liên lạc trao đổi mua ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000VNĐ.

Về nguồn gốc ma tú y: Bị cáo khai mua của một người đàn ông tên Ý để trừ nợ số tiền 3.000.000VNĐ Ý nợ từ trước, sau khi liên lạc T đã xóa số điện thoại của Ý, T không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của Ý, việc trao đổi mua bán ma túy không ai biết chứng kiến do đó cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xác minh.

Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông gọi điện thoại giao dịch ma túy với T. Quá trình điều tra T khai không biết tên, tuổi, địa chỉ, sau khi liên lạc T đã xóa số điện thoại, do đó cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xác minh.

Đối với Phạm Th là chủ nhà nghỉ Phố Mới, quá trình điều tra xác định T không biết việc T thuê phòng nghỉ để sử dụng ma túy. Do đó không đặt vấn đề xử lý đối với T.

Đối với Nguyễn Văn T là người ở cùng phòng với T khi T bị bắt quả tang, quá trình điều tra xác định T không sử dụng ma túy cùng T, không biết việc T tàng trữ số ma túy mà cơ quan điều tra đã bắt quả tang và thu giữ. Do đó không đặt vấn đề xử lý đối với T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015:

T bố bị cáo Nguyễn Sĩ T (Nguyễn Sĩ T1) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Sĩ T (Nguyễn Sĩ T1) 4 (bốn) năm tù giam, thời gian thụ hình tính từ ngày 23/04/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu huỷ: 3,69 gam methamphetamine; mảnh giấy gói ma túy ban đầu; vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu; 01 bật lửa ga nhãn hiệu TANAKA; 02 mảnh giấy bạc màu trắng đã qua sử dụng bám dính chất mầu đen; 01 vỏ chai nước lọc bằng nhựa trong suốt nhãn hiệu AQUAOXYA; 01 chiếc áo khoác màu xanh nhãn hiệu KAPPA.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA vỏ mầu xanh thu giữ của Nguyễn Sĩ T.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000VNĐ.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ