vanban.org

Bản án 907/2026/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/09/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/09/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng V - làm nhục người khác (điều 155 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 155 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 907/2026/HS-PT
Ngày: 25-9-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Viết Hùng.

Các Thẩm phán:

1. Ông Nguyễn Tuấn Anh

2. Ông Trần Minh Châu

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thăng – Thư ký Tòa án nhân dân Thành

phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Quang Vinh – Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh,

xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 757/2026/HSPT ngày 26/8/2026 đối

với bị cáo Nguyễn Hoàng V, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm

số 563/2026/HS-ST ngày 17/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực X - Thành phố Hồ Chí

Minh,

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Hoàng V; giới tính: Nam; sinh ngày 26/9/2003 tại tỉnh G; thường trú:

thôn h, xã c, tỉnh G; nơi ở: số 128 NVL, phường G, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch

Việt Nam; dân tộc Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn 12/12; nghề nghiệp: sinh viên;

con ông Nguyễn Thanh H và bà Huỳnh Thị Kim P; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con;

tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại - Có mặt.

- Người bào chữa:

Bà Phùng Thị H, ông Nguyễn Duy A và ông Lê Trường H là luật sư của Công ty

Luật TNHH A+ thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Nguyễn

Hoàng V (bà H, ông A vắng mặt, ông H có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Bản án sơ thẩm, Nguyễn Hoàng V quen và có quan hệ tình cảm với bà

Nguyễn Thị Vân A từ năm 2023. Trong thời gian quen nhau, V chụp ảnh nhạy cảm của

bà Vân A và lưu trữ trên tài khoản iCloud do V quản lý. Sau khi quan hệ tình cảm chấm dứt vào khoảng tháng 9/2025, do muốn trả thù, ngày 12/10/2025 V sử dụng máy tính xách tay đăng nhập tài khoản Facebook “Minh Nhật”, đưa hình ảnh nhạy cảm của bà Vân A làm ảnh đại diện và đăng nhiều nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm bà Vân A; công khai hình ảnh, số điện thoại, địa chỉ và các đường dẫn đến trang cá nhân của bà Vân A cùng cha mẹ bà là bà Trần Thị K, ông Nguyễn Văn T. Từ 16 giờ 50 phút đến khoảng 21 giờ cùng ngày, V thực hiện sáu lần đăng tải, trong đó có các bài đăng kèm 37 hình ảnh nhạy cảm của bà Vân A. Các nội dung sau đó được gỡ bỏ, mỗi nội dung tồn tại khoảng 10 phút.

Kết luận giám định số 19/GĐTP-CN ngày 27/11/2025 xác định 04 hình ảnh có

nội dung khiêu dâm. Theo Kết luận sơ bộ số 88/PYTTKVHCM-KHTH ngày 03/02/2026, trước và trong khi xảy ra vụ việc V không mắc bệnh tâm thần, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; sau vụ việc có rối loạn stress sau sang chấn, có giai đoạn hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; tại thời điểm giám định đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại phiên tòa sơ thẩm, V không thừa nhận hành vi, cho rằng lời khai nhận tội trong

giai đoạn điều tra là do bị ép cung, dùng nhục hình. Bản án sơ thẩm ghi nhận Tòa án đã trả hồ sơ điều tra bổ sung về nội dung này và không có căn cứ xác định việc ép cung, dùng nhục hình; lời khai tại giai đoạn điều tra phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ.

Bản án hình sự sơ thẩm số 563/2026/HS-ST ngày 17/7/2026 của Tòa án nhân dân

khu vực X - Thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng các điểm a, b, e khoản 2 Điều 155; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Hoàng V 09 tháng tù về tội “Làm nhục người khác”; thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

Bản án còn quyết định tịch thu sung ngân sách nhà nước một máy tính xách tay

Asus ROG Strix G513IH và một điện thoại iPhone 7; trả lại bị cáo một điện thoại Samsung Galaxy A50; buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 20/7/2026, bị cáo Nguyễn Hoàng V kháng cáo. Đơn kháng cáo ghi “kháng

cáo toàn bộ bản án”, đồng thời xác định yêu cầu cụ thể là giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo. Bị cáo trình bày đã nhận thức sâu sắc hành vi sai trái, vô cùng ân hận; hiện là sinh viên, nếu phải chấp hành hình phạt tù sẽ ảnh hưởng việc học; có nhân thân tốt và nơi cư trú rõ ràng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xác định nội dung kháng cáo xin được giảm nhẹ

hình phạt.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng V được thực hiện trong thời hạn luật định nên hợp lệ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Làm nhục người khác” theo điểm a, b, e khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ tính chất, mức

độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và áp dụng các tình tiết giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặc dù tại phiên

tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và được áp dụng thêm tình

tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự,

tuy nhiên mức hình phạt 09 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp. Nên,

không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356

Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng V, giữ

nguyên Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Khu vực X, Thành phố Hồ Chí

Minh.

Luật sư Lê Trường Huy bào chữa cho bị cáo V tranh luận: luật sư không tranh luận

về tội danh mà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được

hưởng án treo. Luật sư cho rằng hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ mâu thuẫn tình

cảm, sự bồng bột, thiếu kiềm chế của bị cáo; bài viết có nội dung liên quan đến bị hại chỉ

tồn tại khoảng 10 phút rồi bị cáo tự gỡ bỏ, chưa phát tán rộng và hậu quả thực tế không

lớn. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã nhận thức được sai phạm, thành khẩn khai báo, ăn năn

hối cải; tự nguyện làm đơn để nộp 5.000.000 đồng bồi thường, khắc phục hậu quả; bị hại

có đơn bãi nại, xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt, không có

tiền án, tiền sự, hiện là sinh viên năm cuối, có nơi cư trú rõ ràng, đang điều trị bệnh về

xương khớp và có khả năng tự cải tạo ngoài xã hội. Từ đó, người bào chữa đề nghị áp dụng

các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự, chấp nhận

kháng cáo, giảm hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.

Ngoài ra, người bào chữa đề nghị xem xét việc bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành

chính 7.500.000 đồng đối với hành vi liên quan đến vụ án để tránh xử lý chồng chéo; kiến

nghị cơ quan có thẩm quyền hủy quyết định xử phạt và hoàn trả số tiền bị cáo đã nộp; đồng

thời đề nghị trả lại cho bị cáo 01 máy tính xách tay hiệu Asus ROG Strix G513IH để phục

vụ việc học tập.

Đại diện Viện kiểm sát tranh luận: tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định

tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự thì đã được Viện kiệm sát đề nghị áp dụng cho

bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo vẫn chưa bồi thường và cũng không thuộc

trường hợp phạm tội lần đầu nên không có cơ sở để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ này cho

bị cáo.

Bị cáo không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị

cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, tranh tụng tại

phiên tòa và phạm vi kháng cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, Cơ quan điều

tra, Viện kiểm sát và Tòa án cấp sơ thẩm; những người tiến hành tố tụng đã thực hiện

đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đơn kháng cáo ngày 20/7/2026 của bị cáo Nguyễn Hoàng V được làm trong thời

hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tuy đơn ghi kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu cụ thể của bị cáo là giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo; Hội đồng xét xử xem xét nội dung kháng cáo và những vấn đề liên quan theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hoàng V thừa nhận hành vi phạm tội.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ, đủ cơ sở xác định: Do mâu thuẫn sau khi chấm dứt quan hệ tình cảm, ngày 12/10/2025, Nguyễn Hoàng V đã nhiều lần sử dụng tài khoản Facebook đăng tải hình ảnh nhạy cảm của bà Nguyễn Thị Vân A cùng các nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm; đồng thời công khai số điện thoại, địa chỉ và các thông tin liên quan đến bà Vân A và cha mẹ bà.

Hành vi nêu trên xâm phạm danh dự, nhân phẩm và đời sống riêng tư của người

bị hại; được thực hiện thông qua mạng viễn thông, phương tiện điện tử và thuộc các trường hợp định khung quy định tại các điểm a, b, e khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Làm nhục người khác” theo các quy định nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử thấy hành vi của bị cáo

không phải là hành vi bột phát duy nhất mà được thực hiện nhiều lần trong cùng ngày, bằng việc đưa hình ảnh nhạy cảm, thông tin cá nhân và nội dung xúc phạm người bị hại lên mạng xã hội; đồng thời thuộc nhiều tình tiết định khung hình phạt. Do đó, hành vi cần được xử lý nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, thể hiện

sự ăn năn, hối cải nên có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo trước khi phạm tội chưa có tiền án, tiền sự, hồ sơ không thể hiện đã thực hiện hành vi phạm tội khác; khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự có mức cao nhất của khung hình phạt là 02 năm tù, thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng. Do đó, bị cáo còn được áp dụng tình tiết “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, tại cấp phúc thẩm bị cáo được áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy

định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng. Xét thêm bị cáo có nhân thân tốt, hiện là sinh viên và các nội dung đăng tải đã được gỡ bỏ sau thời gian ngắn, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo, giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Đối với đề nghị của người bào chữa áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật

Hình sự với lý do bị cáo đã nộp 5.000.000 đồng để bồi thường, khắc phục hậu quả, xét không có tài liệu, chứng cứ thể hiện bị cáo đã thực tế bồi thường hoặc nộp số tiền này để khắc phục hậu quả, nên không có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ nêu trên.

Về đề nghị cho hưởng án treo, mặc dù bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ

ràng, hiện đang học tập và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng bị cáo đã nhiều lần chủ động

đưa hình ảnh nhạy cảm, thông tin cá nhân và nội dung xúc phạm người bị hại lên mạng

xã hội; hành vi đồng thời thuộc nhiều tình tiết định khung quy định tại khoản 2 Điều 155

Bộ luật Hình sự. Xét tính chất, mức độ và cách thức thực hiện hành vi, Hội đồng xét xử

thấy vẫn cần buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù trong một thời gian nhất định mới bảo

đảm tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận

yêu cầu cho bị cáo hưởng án treo.

Đối với đề nghị hủy quyết định xử phạt vi phạm hành chính và hoàn trả số tiền

7.500.000 đồng mà bị cáo đã nộp, việc xem xét, xử lý quyết định hành chính thuộc thẩm

quyền và được thực hiện theo trình tự pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nên Hội

đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Đối với máy tính xách tay Asus ROG Strix G513IH, đây là phương tiện bị cáo sử

dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên Tòa án cấp sơ thẩm quyết định tịch thu sung ngân

sách nhà nước là có căn cứ; không chấp nhận đề nghị của người bào chữa về việc trả lại

cho bị cáo.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận một phần kháng

cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng V, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt, giảm một phần hình

phạt cho bị cáo; không chấp nhận yêu cầu cho hưởng án treo. Quan điểm của người bào

chữa về việc giảm hình phạt có căn cứ một phần nên được chấp nhận; các đề nghị khác

không phù hợp với nhận định trên không được chấp nhận.

Do kháng cáo được chấp nhận một phần, bị cáo không phải chịu án phí hình

sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị

đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố

tụng hình sự:

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng V; sửa Bản án hình sự

sơ thẩm số 563/2026/HS-ST ngày 17/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực X, Thành phố

Hồ Chí Minh.

2. Căn cứ các điểm a, b, e khoản 2 Điều 155; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng V 06 (sáu) tháng tù về tội “Làm nhục người khác”.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản

2 Điều 23 và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Bị cáo Nguyễn Hoàng V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ