- Tranh chấp gì? "Lê Văn T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 02, thành phố Đồng Nai; địa chỉ: Ấp X, xã P, thành phố Đồng Nai đối với Lê Văn T, sinh ngày 15/05/1992.
- Căn cứ chính? Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hàn…; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 90/QĐ-TA | Đồng Nai, ngày 16 tháng 7 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐỒNG NAI
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Đinh Thị Tuyết Hạnh
2. Thư ký phiên họp: Ông Trần Thế Mạnh
Ngày 16 tháng 07 năm 2026, tại Hội trường C - Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai, Tòa án tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 88/QĐ-TA ngày 10 tháng 07 năm 2026, đối với:
Họ và tên: Lê Văn T, sinh năm: 1992;
Nơi sinh: Đồng Nai, giới tính: Nam;
CCCD số: 0750.9201.7998; Ngày cấp: 10/08/2021; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội;
Nơi đăng ký thường trú: Khu phố Y, phường B, thành phố Đồng Nai;
Nơi ở hiện nay: Khu phố Y1, phường B, thành phố Đồng Nai;
Tôn giáo: Không;
Trình độ học vấn: 12/12;
Nghề nghiệp: Làm rẫy;
Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 07/01/2026, Lê Văn T bị Công an phường B xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 02/QĐ-XPHC;
Con ông Lê Văn T1, sinh năm: 1971 và bà Đặng Thị Mỹ L, sinh năm: 1971.
(Đối tượng vắng mặt tại phiên họp)
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Trưởng Công phường B, thành phố Đồng Nai.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc Toán – Cán bộ Công an phường B, thành phố Đồng Nai. (Theo văn bản ủy quyền số 10/GUQ-CAP-CSKV ngày 10 tháng 7 năm 2026).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai: Ông Nguyễn Văn Báu - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
1. Tóm tắt hành vi vi phạm của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như sau:
Ngày 18/6/2026, Lê Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 22/06/2026, Lê Văn T đã được Công an phường B và Trạm y tế phường B tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, kết quả: Lê Văn T dương tính với chất ma túy trong cơ thể (MET). Ngày 23/06/2026, Lê Văn T được Công an phường B thông báo về việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng nhưng T không đồng ý đăng ký theo quy định.
Ngày 22/06/2026, Công an phường B lập biên bản vi phạm đối với Lê Văn T do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 23/06/2026, Công an phường B ban hành Quyết định số 37/QĐQLNN-CAP-CSKV về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T. Ngày 23/06/2026, Công an phường B ban hành Đề nghị số 210/ĐN-CAP về việc xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T.
Hiện nay Công an phường B đã giao đối tượng Lê Văn T cho Cơ sở nghiện ma túy số 01, thành phố Đồng Nai quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.
2. Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị:
Công an phường B đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 02 thành phố Đồng Nai, thời hạn là 24 (Hai mươi bốn) tháng đối với Lê Văn T.
3. Ý kiến của người bị đề nghị:
Theo bản tường trình và tài liệu có trong hồ sơ Lê Văn T thừa nhận sử dụng ma túy từ năm 2025, tần suất sử dụng ma túy một tuần sử dụng ít nhất một đến hai lần, loại ma túy sử dụng là ma túy đá. Vào ngày 18/06/2026, T đã sử dụng ma túy tại vườn sầu riêng ở Trà Cổ, Tân Phú, thành phố Đồng Nai. Ngày 22/06/2026 Lê Văn T được trạm y tế phường B xét nghiệm và xác định Lê Văn T dương tính với chất ma túy trong cơ thể (MET). Công an phường B đã thông báo về việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nhưng T không đồng ý đăng ký theo quy định. Tuy nhiên, tại phiên họp đối tượng T vắng mặt (có đơn xin vắng mặt) và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
4. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai tham gia phiên họp:
Về việc tuân theo pháp luật: Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính kể từ khi thụ lý đến khi ra quyết định của Tòa án thực hiện đúng theo quy định tại Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Về điều kiện đưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện: Đối tượng Lê Văn T là người nghiện ma túy trên 18 tuổi và là đối tượng chưa được đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại xã, phường nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an phường B, thành phố Đồng Nai lập biên bản vi phạm. Vì vậy, hành vi của T thuộc vào đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 29, Điều 35 Luật Phòng chống ma túy năm 2025 là đúng quy định pháp luật.
Đề nghị Tòa án xem xét áp dụng thời hạn đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T là 24 (Hai mươi bốn) tháng.
Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục gì khác.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ xem xét xử lý vi phạm hành chính, Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai nhận định như sau:
Về tố tụng:
Quá trình giải quyết, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho Lê Văn T nhưng T vắng mặt tại phiên họp (có đơn xin vắng mặt). Theo khoản 8 Điều 1 Nghị quyết 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao nên Tòa án vẫn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xứ lý hành chính theo thủ tục chung.
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Công an phường B lập đúng thẩm quyền, đảm bảo thời hiệu áp dụng; việc lập hồ sơ, thẩm tra hồ sơ đã thực hiện đúng quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 6; điểm a, khoản 1 Điều 103; Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 13/11/2020 của Quốc Hội và hướng dẫn tại các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.
Về nội dung đề nghị: Theo các tài liệu đã thu thập, lời khai thừa nhận của người bị đề nghị và tại Phiếu kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 22/06/2026 của Trạm y tế phường B kết luận Lê Văn T dương tính với chất ma túy trong cơ thể (MET). Mặt khác, T cũng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng. Do đó, đã đủ cơ sở để áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T theo quy định tại Điều 95, Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống ma túy năm 2025 và hướng dẫn tại Điều 33; Điều 40 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Vì lẽ đó, Trưởng Công an phường B đề nghị đưa Lê Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi của đối tượng:
Hành vi của đối tượng Lê Văn T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước nhưng không phải là tội phạm, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần và là nguyên nhân của các tội phạm khác. Bản thân đối tượng biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi vi phạm. Do đó, việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T là cần thiết, tạo điều kiện cho đối tượng chữa bệnh, lao động, học tập văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với hành vi vi phạm hành chính của người bị đề nghị:
Đối tượng không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính quy định tại Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Quá trình làm việc với cơ quan công an, người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
Về ý kiến của cơ quan đề nghị:
Đại diện Công an phường B đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T là phù hợp quy định tại Điều 103, 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và khoản 1 Điều 29, Điều 35 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 nên chấp nhận.
Về ý kiến của viện kiểm sát:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Đồng Nai đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và khoản 1 Điều 29, Điều 35 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Điều 20, 22, 23, 24, 30, 31, 32 Pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và Pháp lệnh 02/2026/UBTVQH16 sửa đổi bổ sung một số điều về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
- Áp dụng khoản 2 Điều 9; Điều 95; Điều 96; khoản 2 Điều 104, Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính số 67/2020/QH14 ngày 13/11/2020;
- Áp dụng khoản 1 Điều 29, khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống ma túy năm 2025;
- Áp dụng Điều 33; Điều 40; Điều 41; Điều 42 và Điều 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 02, thành phố Đồng Nai; địa chỉ: Ấp X, xã P, thành phố Đồng Nai đối với Lê Văn T, sinh ngày 15/05/1992.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an phường B, thành phố Đồng Nai và Cơ sở cai nghiện ma túy số 01 và số 02, thành phố Đồng Nai thi hành quyết định này theo luật định.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - VKSND khu vực 4 – Đồng Nai; - Công an phường B, TP. Đồng Nai; - Công an TP. Đồng Nai (Phòng hồ sơ); - UBND phường B, thành phố Đồng Nai; - Cơ sở cai nghiện ma túy số 01, 02 thành phố Đồng Nai; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký tên và đóng dấu) Đinh Thị Tuyết Hạnh |