- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị Cáo Lê Minh T phạm tội "Buôn bán hàng cấm" - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2019/HSPT Ngày 19/4/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Huy Hùng.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Chinh.
Bà Lê Thị Thủy.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thu Trang
Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Ông Lê Thanh Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 19/4/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2019/HSPT ngày 04 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo Lê Minh T, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 08/2019/HSST ngày 31/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hà trung, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Lê Minh T, sinh năm 1981; Tại xã H.L, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT: Thôn Đồng T, xã H.L, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa; Chổ ở: Thôn H.V, xã H.L, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Minh T (đã chết) và bà Nguyễn Thị Th; Có vợ là Tống Thị Ng và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 20/8/2007 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 24/7/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2019 đến nay. Có mặt.
- Bị cáo không kháng cáo: Bùi Đình Ch, sinh năm 1981;
STQ: Thôn Y.V, xã H.L, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 20 giờ 30 phút ngày 16/01/2019, tổ công tác Công an huyện Hà Trung phối hợp với Công an xã H.L làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát an ninh tại khu vực QL 217B thuộc thôn G.M, xã H.L thì phát hiện Bùi Đình Ch, điều khiển xe mô tô 36P1-1557 chở theo một bao tải màu xanh ở gác ba ga xe, thấy có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác đã tiến hành dừng xe để kiểm tra và phát hiện bên trong bao tải có 01 thùng giấy cattong, bên trong thùng có chứa 18 hộp hình vuông, bên ngoài mỗi hộp có dán giấy màu có in chữ nước ngoài (dạng chữ Trung Quốc), bên trong mỗi hộp đựng 36 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau nghi là pháo nổ. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bùi Đình Ch, thu giữ và niêm phong toàn bộ vật chứng. Quá trình làm việc Ch khai đó là pháo nổ vừa mua của Lê Minh T, ở thôn H.V xã H.L, huyện Hà Trung mang về nhà cất giấu và bán kiếm lời.
Cơ quan CSĐT Công an huyện tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Lê Minh T thu giữ 03 bao tải màu xanh bên trong mỗi bao tải có một thùng giấy cattong. Trong đó: có 01 thùng bên trong chứa 11 hộp; 02 thùng còn lại bên trong chứa mỗi thùng 18 hộp, bên ngoài mỗi hộp có dán giấy màu có in chữ nước ngoài (dạng chữ Trung Quốc), bên trong mỗi hộp đựng 36 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau nghi là pháo nổ. Cơ quan CSĐT Công an huyện Hà Trung đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Minh T, thu giữ và niêm phong toàn bộ vật chứng.
Tại bản kết luận giám định số 428/KLGĐ-PC09 ngày 18 tháng 01 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
- 18 hộp hình hộp chữ nhật, bên trong mỗi hộp chứa 36 ống hình trụ tròn thu giữ được trên xe mô tô của Bùi Đình Ch đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ). Tổng khối lượng của 18 hộp là 25,7kg.
- 11 hộp hình hộp chữ nhật, bên trong mỗi hộp chứa 36 ống hình trụ tròn thu giữ được tại nhà Lê Minh T đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ). Tổng khối lượng của 11 hộp là 15,05kg.
- 18 hộp hình hộp chữ nhật, bên trong mỗi hộp chứa 36 ống hình trụ tròn thu giữ được tại nhà Lê Minh T đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ). Tổng khối lượng của 18 hộp là 25kg.
- 18 hộp hình hộp chữ nhật, bên trong mỗi hộp chứa 36 ống hình trụ tròn thu giữ được tại nhà Lê Minh T đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ). Tổng khối lượng của 18 hộp là 25,3kg.
* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 08/2019/HSST ngày 31/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh T và Bùi Đình Ch phạm tội “Buôn bán hàng cấm”;
- Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Lê Minh T: 08 năm 06 tháng (Tám năm sáu tháng) tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ: 16/01/2019.
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Bùi Đình Ch: 12 (Mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ: 16/01/2019.
- Án sơ thẩm còn quyết định tang vật, nghĩa vụ thi hành án trong vụ án, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của bị cáo và bị hại.
* Ngày 08/01/2019 bị cáo Lê Minh T kháng cáo nội dung: Do điều kiện hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, cấp sơ thẩm xử phạt nặng nên đề nghị giảm nhẹ hình phạt.
* Tại phiên tòa:
- Bị cáo giữ nguyên kháng cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt cấp sơ thẩm đã xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới: Ngày 01/4/2019, Công an xã xác nhận bị cáo trong thời gian sinh sống tại địa phương đã có thành tích giúp Ban công an xã ngăn chặn được một số vụ đánh nhau và trộm cắp tài sản, UBND xã xác nhận điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân là lao động chính trong gia đình. Do bị cáo nên có thêm các tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thẩm theo điểm t khoản 1,2 Điều 51 BLHS, nên đề nghị: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù so với cấp sơ thẩm đã xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, tại phiên tòa bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo nên được chấp nhận để xét theo thủ tục phúc thẩm.
. Xét nội dung kháng cáo:
Vào hồi 20 giờ 30 phút ngày 16/01/2019, Công an huyện Hà Trung phát hiện Bùi Đình Ch, điều khiển xe mô tô 36P1-1557 chở bên trong bao tải có 01 thùng giấy cattong, bên trong thùng có chứa 18 hộp hình vuông, bên ngoài mỗi hộp có dán giấy màu có in chữ nước ngoài (dạng chữ Trung Quốc), bên trong mỗi hộp đựng 36 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau nghi là pháo nổ, qua giám định có trọng lượng 25,7 kg pháo nổ. Ngay tại chỗ Ch khai đó là pháo nổ của Lê Minh T với số tiền 14.400.000đ mang về nhà cất giấu và bán kiếm lời. Cơ quan CSĐT Công an huyện tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Lê Minh T thu giữ 03 bao tải màu xanh bên trong mỗi bao tải có một thùng giấy cattong. Kết quả giám định số lượng pháo nổ còn lại với tổng khối lượng là 91,05kg. Lê Minh T khai nhận đây là số pháo mua của một người không quen biết ở tỉnh Lạng Sơn với số tiền 32.400.000đ.
Vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Lê Minh T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.
Hành vi buôn bán là pháo nổ là mặt hàng nhà nước cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán đã được nhân dân đồng tình và tự giác chấp hành. Nhưng bị cáo vì hám lợi, bất chấp pháp luật lao vào con đường phạm tội, hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm và cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa Ch.
Cấp sơ thẩm đã xem xét quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới là: Ngày 01/4/2019, Công an xã H.L, huyện Hà Trung có văn bản đề nghị Tòa án xem xét thời gian ở địa phương của bị cáo Lê Minh T đã có thành tích giúp Ban công an xã trong công tác đảm bảo, giữ gìn an ninh trật tự đó là: Ngăn chặn được một số vụ đánh nhau và trộm cắp ở địa phương. Đồng thời UBND xã H.L xác nhận điều kiện hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, bản thân là lao động chính đang nuôi mẹ già yếu, vợ ốm đau, con còn nhỏ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thẩm nên bị cáo được áp dụng thêm điểm t khoản 1,2 Điều 51 BLHS. Xét tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ở cấp sơ thẩm đã đánh giá áp dụng và các tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thẩm. Hội đồng xét xử, chấp nhận kháng cáo và giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo từ bỏ con đường phạm tội, sớm trở về hòa nhập với cộng đồng.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
. Án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm vì kháng cáo được chấp nhận cải sửa án sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Minh T, sửa quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2019/HS-ST ngày 31/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung về phần hình phạt.
* Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s,t khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điểm h khoản 2 Điều 23 nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội.
- Xử phạt bị cáo Lê Minh T: 06 (sáu) năm, 06 tháng (sáu) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16/01/2019.
* Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
* Án phí phúc thẩm: Bị cáo Lê Minh T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi gửi - TAND, VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND Tỉnh Thanh Hóa; - CA tỉnh Thanh Hóa; - Sở Tư pháp Thanh Hóa; - VKS,TA,THAHS, DS huyện Hà Trung; - Bị cáo; - Lưu H.sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Hà Huy Hùng |