- Tranh chấp gì? án hình sự — "LÝ KIỀM V & ĐỒNG PHẠM - phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (điều 142 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lý Kiềm V, Triệu Văn C, Đặng Văn L, Dương Đình H, Triệu Tòn L1, Lý Văn S phạm tội: "Hiếp dâm người dưới 16 tuổi".
- Căn cứ chính? Điều 142 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 896/2023/HSPT Ngày: 24 - 11 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hải Thanh;
Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Xuân Điền;
Ông Nguyễn Tiến Dũng;
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Hà Lê Giang, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hoàng, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 963/2023/TLPT-HS ngày 07 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo Lý Kiềm V cùng đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 37/2023/HS-ST ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Lý Kiềm V, sinh năm 1995 tại huyện N, tỉnh Cao Bằng. Nơi cư trú: Xóm B, xã P, huyện N, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Phụ Q và bà Lý Mùi N; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2022 đến nay. Có mặt.
2. Đặng Văn L, sinh năm 1998 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Phúc T (đã chết) và bà Đặng Thị P; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam từ ngày 07/10/2022 đến nay. Có mặt.
3. Dương Đình H, sinh năm 1995 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Nơi cư trú: Tổ A, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Dương Đình Q1 (đã chết) và bà Lý Thị Y; vợ là Hoàng Thị H1 (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: ngày 16/12/2017, bị Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng) về hành vi “Đánh nhau”; bị bắt, tạm giam từ ngày 06/10/2022. Có mặt.
4. Lý Văn S, sinh năm 1999 tại huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Nơi cư trú: Thôn P, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Kiềm T1 và bà Bàn Thị N1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam từ ngày 07/10/2022. Có mặt.
5. Triệu Tòn L1, sinh năm 1991 tại huyện H, tỉnh Cao Bằng. Nơi cư trú: Thôn P, xã B, huyện C, Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Dào K và bà Hoàng Thị V1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 06/10/2022. Có mặt.
6. Triệu Văn C, sinh năm 1999 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Nơi cư trú: thôn L, xã Đ, huyện B, Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn C1 và bà Đặng Thị P; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam từ ngày 07/10/2022. Có mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo Triệu Tòn L1, Lý Văn S, Đặng Văn L, Lý Kiềm V: Ông Vi Hiệp C2 - Luật sư văn phòng luật sư Hoàng Toàn thuộc Đoàn luật sư tỉnh B. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Dương Đình H: Ông Hoàng Đình T2 - Luật sư văn phòng luật sư Hoàng Toàn thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 28/9/2022, ông Triệu Minh K1 đến Công an xã Đ, huyện B tố giác với nội dung: Trong năm 2021 con gái ông K1 là Triệu Thị Nguyệt N2, sinh ngày 15 tháng 11 năm 2007, học lớp 8 trường THCS xã Đ và trọ học tại ký túc xá của nhà trường. Thông qua mạng xã hội, N2 đã quen biết, có tình cảm và quan hệ tình dục với nhiều người tại các địa điểm thuộc huyện B, huyện C và thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Hiện nay Triệu Thị Nguyệt N2 đang có thai khoảng 21 tuần tuổi nhưng không biết bố của cháu bé là ai.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B sau khi trình điều tra đã làm rõ: Trong khoảng thời gian từ tháng 10 năm 2021 đến tháng 9 năm 2022, N2 đã tự nguyện quan hệ tình dục với tổng số 06 (sáu) người, cụ thể như sau:
1. Lý Kiềm V: Khoảng tháng 7, tháng 8 năm 2021, Lý Kiềm V và Triệu Thị Nguyệt N2 quen nhau qua mạng xã hội zalo, sau đó V và N2 thường xuyên nhắn tin qua zalo, facebook với nhau, tài khoản zalo của V là “LK Kỳ Vần” đăng ký theo số thuê bao 0963.782.195. Sau một thời gian nhắn tin nói chuyện thì V và N2 nảy sinh tình cảm yêu đương. Vần đã quan hệ tình dục với N5 (bốn) lần, cụ thể:
+ Lần 1 và lần 2: Ngày 06/5/2022, sau khi đã hẹn trước với N2 thì V từ nhà một mình đi xe mô tô Wave Anlpha, biển kiểm soát 11B1-387.55 (Xe mô tô của V) đến tỉnh Bắc Kạn theo vị trí định vị do N2 gửi cho V. Khoảng 13 giờ cùng ngày thì V đi đến khu vực cổng trường Trung học cơ sở và Tiểu học xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn gặp N2, sau đó V chở N2 đi thành phố B chơi. Đến chiều tối cùng ngày V và N2 vào nhà nghỉ M1 thuộc phường S, thành phố B thuê phòng rồi đi ăn cơm, uống nước đến khoảng 21 giờ thì quay lại nhà nghỉ M1. Sau khi tắm rửa xong thì V và N2 nằm lên giường nói chuyện, tâm sự với nhau đến khoảng 22 giờ thì V nảy sinh ý định quan hệ tình dục nên ôm, hôn N2 rồi quan hệ tình dục với nhau. Quan hệ tình dục xong V và N2 thay nhau đi tắm rồi lên giường đi ngủ. Khoảng một đến hai giờ đồng hồ sau, V và N2 lại tiếp tục quan hệ tình dục lần thứ hai. Quan hệ tình dục xong cả hai ôm nhau nói chuyện và đi ngủ, sáng hôm sau V đưa N2 đi ăn sáng rồi đưa N2 quay về khu vực xã Đ nơi N2 đợi V ngày hôm trước, đến nơi thì N2 xuống xe còn V một mình đi xe máy về nhà tại Cao Bằng.
+ Lần 3 và lần 4: Ngày 22/9/2022, thời điểm này V đang làm công nhân tại thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang, do đã có hẹn trước với N2 nên V một mình đi từ Bắc Giang bằng xe mô tô của V có đặc điểm như trên đến tỉnh Bắc Kạn để gặp N2. V đi theo định vị do N2 gửi qua zalo đến Trạm y tế xã Đ (nay là xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn). Sau đó, V đưa N2 ra thành phố B đi dạo, nói chuyện, tâm sự với nhau, đến khoảng 15 giờ cùng ngày cả hai đến nhà nghỉ H4, thuộc phường N, thành phố B thuê phòng nghỉ một lúc rồi đi ăn. Sau khi ăn xong cả hai quay lại nhà nghỉ tắm rửa và lên giường nằm nói chuyện, tâm sự và quan hệ tình dục với nhau, sau đó thay nhau đi tắm và lên giường ngủ. Đến khoảng 02 giờ sáng (ngày 23/9/2022) thì V lại tiếp tục cùng N2 quan hệ tình dục lần hai. Sáng hôm sau V đưa N2 về đến vị trí V đã đón N2 ngày hôm trước rồi đi xe mô tô về tỉnh Bắc Giang.
2. Đặng Văn L: L và Triệu Thị Nguyệt N2 quen biết nhau qua mạng xã hội facebook từ khoảng đầu năm 2022, N2 gửi lời mời kết bạn cho L sau đó L và N2 đã nhắn tin nói chuyện với nhau qua ứng dụng mesenger facebook. L và N2 đã quan hệ tình dục với nhau 04 lần, cụ thể như sau:
Lần 1: Khoảng 20 giờ tối một ngày trong tháng 02 năm 2022, L và N2 nhắn tin qua ứng dụng messenger hẹn nhau đi chơi, N2 hẹn L là sẽ đứng chờ ở cầu treo gần Trạm y tế xã Đ, sau đó L từ nhà một mình đi xe mô tô Yamaha Sirius màu đen, biển kiểm soát 97F4-5447 (xe của Đặng Văn P1 - anh trai ruột của L) đến Trạm y tế xã Đ đón N2 và chở N2 đi ra thành phố B. Sau khi đi dạo quanh thành phố B đến khoảng 21 giờ thì L hỏi N2 “thế bây giờ đi đâu” thì N2 trả lời “đi đâu cũng được”, lúc đó L nảy sinh ý muốn quan hệ tình dục với N2 nên nói “thế đi nhà nghỉ nhé”, N2 trả lời “vâng”. L chở N2 đến nhà nghỉ H5 thuộc tổ I, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn và được chủ nhà nghỉ bố trí phòng 307. Sau khi vào phòng thì L và N2 ngồi nói chuyện với nhau, L hỏi N2 là “quan hệ tình dục thì em có sợ không”, N2 trả lời là “không sợ”. Sau đó, L bảo N2 đi tắm, khi N2 tắm xong đi ra khỏi nhà tắm và ngồi trên giường thì L đi tắm. Tắm xong, L vào ngồi cạnh N2 khoác tay lên vai và cả hai nằm xuống giường rồi quan hệ tình dục. Sau đó, L và N2 cùng nhau mặc quần áo và đi về. Trên đường về, khi đi đến khu vực ngã tư cầu Đ thuộc tổ A, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, L vào một hiệu thuốc mua một viên thuốc tránh thai khẩn cấp đưa cho N2. Sau đó, L đưa N2 về đến cầu treo gần Trạm y tế xã Đ, thì N2 nói không có tiền ăn sáng nên L đưa cho N2 số tiền 70.000đ (bảy mươi nghìn đồng) rồi đi về nhà.
+ Lần 2: Sau lần đầu khoảng hai đến ba ngày, khoảng 20 giờ Nga và L nhắn tin qua ứng dụng messenger hẹn nhau đi chơi, N2 hẹn và chờ L ở cầu treo gần Trạm Y tế xã Đ. L từ nhà đi xe mô tô Sirius của Đặng Văn P1 đến đón và chở N2 đi ra thành phố B rồi đi đến nhà nghỉ H5 và được bố trí phòng 307. Tại đây, L và N2 đã quan hệ tình dục với nhau. Quan hệ tình dục xong, L đưa N2 đến nơi đã đón N2 ban đầu thì N2 nói không có tiền nên L đưa cho N2 số tiền 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) rồi đi về nhà.
+ Lần 3: Khoảng 20 giờ vào một ngày trong khoảng tháng 5 năm 2022, N2 nhắn tin rủ L đi chơi nên L điều khiển xe mô tô Sirius của Đặng Văn P1 đến đón N2 ở cầu treo như mọi lần. Khi N2 ngồi lên xe thì L hỏi là “đi đâu” thì N2 trả lời “đi đâu cũng được, tùy anh”. Lai chở N2 đi ra đoạn đỉnh dốc Kéo Pụt thuộc thôn B, xã D, thành phố B thì dừng lại và ngồi trên xe nói chuyện với nhau một lúc thì N2 ôm L từ phía sau nên L nảy sinh ý định quan hệ tình dục với N2 và xuống xe, dựng chân chống chính lên, còn N2 nhấc chân phải sang bên trái yên xe, tư thế ngồi quay người sang bên trái rồi cả hai quan hệ tình dục. Sau đó L đưa N2 quay về đến cầu treo nơi đã đón N2, L lấy từ trong túi đưa cho N2 vài tờ tiền lẻ rồi đi về nhà.
+ Lần 4: Khoảng 20 giờ vào một ngày cách lần thứ ba khoảng hai hoặc ba ngày, L và N2 nhắn tin rủ nhau đi chơi nên L điều khiển xe mô tô Sirius của Đặng Văn P1 đến đón N2 ở cầu treo như các lần trước. L chở N2 đến vị trí đã quan hệ tình dục với N2 lần thứ ba và cùng N2 quan hệ tình dục với nhau theo tư thế quan hệ tình dục mô tả ở lần thứ ba, nhưng lần này, L xuất tinh vào trong âm đạo của N2. Trên đường về N2 có hỏi L là nếu có thai thì làm thế nào, L nói với N2 là sẽ cưới N2 làm vợ.
3. Dương Đình H: Khoảng tháng 12 năm 2021, H sử dụng tài khoản facebook là “Hưởng Dương Đ” thì phát hiện có tài khoản facebook “Trieu Thi Nguyet N2” của Triệu Thị Nguyệt N2 nên gửi lời mời kết bạn làm quen và được N2 đồng ý kết bạn. Sau đó H và N2 thường xuyên nhắn tin, gọi điện nói chuyện với nhau qua ứng dụngmessenger facebook, sau một thời gian nhắn tin nói chuyện thì giữa H và N2 nảy sinh tình cảm yêu đương với nhau. Trong tháng 3 năm 2022, H đã quan hệ tình dục với N2 02 (hai) lần, cụ thể như sau:
+ Lần thứ nhất: Khoảng đầu tháng 3 năm 2022 (H không nhớ ngày cụ thể), khoảng 20 giờ thì N2 nhắn tin bảo H đón N2 đi chơi, H đồng ý và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đen, biển kiểm soát 26K4-0099 của H đi đến điểm Bưu điệnvăn hóa xã Đ, huyện B, tỉnh B (gần nơi N2 trọ học) để đón N2, sau đó khi chở N2 thì H có hỏi “bây giờ em muốn đi đâu?”, N2 không nói gì. H điều khiển xe mô tô đi theo hướng vào thủy điện N, tại đó có lán kinh tế của gia đình H, trong quá trình đi thì H và N2 nói chuyện tâm sự chuyện tình cảm yêu đương. Khi đến khu vực nhà máy thủy điện thì H đi xe mô tô lên lán, dựng xe bên dưới cửa lán, do trời tối và không có điện nên H và N2 sử dụng đèn flash của điện thoại di động soi và đi vào trong lán ngồi nói chuyện, H và N2 ngồi lên chiếu dưới nền sàn gỗ nói chuyện khoảng 10 phút rồi cả hai đồng thuận quan hệ tình dục. Sau đó cả hai nằm nói chuyện đến khoảng 23 giờ thì cùng nhau mặc quần áo rồi H chở N2 về. Khi đến điểm Bưu điện văn hóa xã Đ thì N2 xuống xe tự đi bộ về còn H đi về nhà tại phường S, thành phố B ngủ.
+ Lần thứ 2: Cách lần thứ nhất khoảng hai tuần, H cùng N2 nhắn tin nói chuyện, N2 rủ H vào trong xã Đ đón N2 đi chơi. Khoảng 21 giờ cùng ngày, H sử dụng xe mô tô của H đi đến điểm Bưu điện văn hóa xã Đ đón N2 và đi đến quán cách đó khoảng 10m ngồi uống nước ngọt và nói chuyện; được khoảng 30 phút thì H rủ N2 đi chơi thì N2 đồng ý, trên đường đi gặp một quán nước, H xuống xe vào quán mua hai chai nước nhãn hiệu 247 vị cafe, sau đó tiếp tục đèo N2 đi đến một đoạn đường vắng, không có nhà dân ở thuộc thôn V, xã Đ, huyện B, tỉnh B. H dừng xe và bảo N2 “hay xuống bụi này làm cái nhỉ”, N2 trả lời “vâng”, H và N2 xuống xe và đi xuống đường đất ở bên trái theo hướng xuống sườn đồi, đi được khoảng 25m thì đến một bãi đất trống, cả hai tiến hành quan hệ tình dục. Sau đó N2 tự mặc quần, H cũng tự mặc quần và đưa N2 về đến điểm Bưu điện văn hóa xã Đ thì N2 xuống xe đi bộ về, H đi về nhà của mình.
4. Lý Văn S: Khoảng tháng 6 năm 2022, S được Triệu Tiến H2, sinh năm 1999, trú tại thôn V, xã Đ, huyện B, tỉnh B giới thiệu và quen biết với Triệu Thị Nguyệt N2, qua Facebook của N2 là “Triệu Thị Nguyệt N2” và “Cô bé ngốc”. Sau khi nói chuyện với N2 thì cùng ngày H2 rủ S sang nhà N2 tại thôn N, xã Đ chơi, S đồng ý. S cùng H2 từ nhà S tại thôn P, xã B, huyện C mỗi người đi một xe mô tô sang nhà N2. S đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 97B1-100.67 (Xe của ông Lý Kiềm T1 - bố đẻ của S). Khi đến chân dốc lên nhà N2 thì S để xe mô tô của mình ở chân dốc và ngồi theo xe của H2 đi lên nhà N2. Trong buổi tối cùng ngày thì S đã quan hệ tình dục với N2 02 (hai) lần, cụ thể như sau:
- Lần 1: Khoảng 16 giờ, khi S và H2 đến nhà N2 tại thôn N, xã Đ thì gặp bố, mẹ, anh rể tên là D, chị gái của N2 và N2. Lúc đó, bố mẹ N2 đang chuẩn bị đi ăn cưới. Sau khi vào nhà N2 ngồi chơi được một lúc thì S rủ mọi người đi uống bia tại xã Đ, huyện C, tỉnh B. D đèo S xuống trước để S lấy xe mô tô của S còn H2 đi sau, đang đi thì H2 quay lại đón N2 đi cùng. Sau khi uống bia tại xã Đ đến khoảng 18 giờ thì H2 đi về nhà H2 bằng xe mô tô của H2, còn S chở N2 đi về bằng xe mô tô của S, D đi xe mô tô của D đi về nhà N2. Đến đoạn đường cách nhà N2 khoảng 100m thì S dừng xe và bảo N2 xuống xe đi bộ về nhà để S đi về nhà nhưng N2 không về nên S quay xe và chở N2 đi theo hướng xuống xã Đ khoảng 30m thì N2 vẫn không chịu xuống xe nên S dừng xe và nói chuyện với N2 một lúc thì S nảy sinh ý định quan hệ tình dục với N2 nên hỏi N2 “có thích quan hệ tình dục không” thì N2 trả lời “có”, Sao hỏi tiếp “có sợ bố mẹ không” thì N2 trả lời “không sợ”. Do sợ bị người khác phát hiện nên S cùng N2 đi lên khu vực đồi thuộc xã Đ cách đường khoảng 3m, do trời tối nên S và N2 sử dụng đèn flash của điện thoại để soi đường, cả hai ngồi nói chuyện trên một cành cây đổ, sau đó hai người cùng đi sang bên cạnh khoảng 2m thì N2 tự cởi quần dài và quần lót của N2 và nằm xuống đất còn Sao tự cởi quần dài và quần lót của mình đến bắp chân rồi quỳ vào giữa hai chân N2 và lấy 01 (một) chiếc bao cao su có sẵn để trong túi đeo chéo của S và đeo vào dương vật, rồi S nằm lên người Nga và quan hệ tình dục. Sau đó hai người đi xuống đường và đi xe mô tô về nhà N2.
Lần 2: Khi về đến nhà N2, S và D ngồi uống rượu đến khoảng 01 giờ sáng ngày hôm sau thì mẹ S gọi điện thoại và bảo S về nhà. N2 ra ngồi lên sau xe của S để dẫn đường, khi đưa S ra đến khu vực đỉnh dốc thuộc khu đồi cách nhà N2 khoảng 70m thì S dừng xe để N2 xuống xe nhưng N2 không xuống và rút chìa khóa xe không cho S về, do bực tức nên S xuống xe và đạp đổ xe của mìnhthì N2 mới xuống xe. S đòi về nhà nhưng N2 không đưa chìa khóa xe cho nên S nói “Thôi không về nữa”, sau đó S và N2 ngồi xuống vệ đường nói chuyện. Một lúc sau S hỏi “Em còn thích không”, N2 trả lời “Có”; S nói “Làm phát hai nhé”, N2 trả lời “Vâng”, S hỏi tiếp “Có sợ bố mẹ không”, N2 trả lời “Không” và tự tụt quần của mình xuống đến cổ chân và nằm dựa vào taluy bên trái hướng từ nhà của N2 đi ra, S cũng tự cởi quần và lấy bao cao su có sẵn trong túi đeo chéo ra đeo vào dương vật và quan hệ tình dục với N2. Sau đó, S và N2 đi bộ về nhà N2 ngủ. Đến sáng thì S đi về nhà tại thôn P, xã B.
5. Triệu Tòn L1: Khoảng tháng 11 năm 2021, Lý Tiến Đ1, sinh năm 1991, trú tại thôn P, xã B, huyện C, tỉnh B giới thiệu cho L1 bạn của Đ1 tên là Triệu Thị Nguyệt N2 sử dụng tài khoản Facebook là “Trieu Thi Nguyet N2” nên L1 sử dụng tài khoản facebook là “Loai Lac” để kết bạn, làm quen với N2 thì được N2 đồng ý, từ đó L1 và N2 thường xuyên nhắn tin, gọi điện nói chuyện với nhau qua ứng dụngmessenger facebook, sau một thời gian nhắn tin nói chuyện thì phát sinh tình cảm yêu đương với nhau.
Khoảng 13 giờ ngày 24/7/2022, N2 nhắn tin rủ L1 sang đón N2 đi uống nước, do không biết đường nên khoảng 15 giờ cùng ngày, L1 nhờ Triệu Tiến H2, sinh năm 1999, thường trú tại thôn V, xã Đ, huyện B, tỉnh B (H2 biết nhà N2) đưa L1 lên nhà N2 để đón N2 thì được H2 đồng ý. Sau đó L1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda ArBlade, màu đỏ, biển kiểm soát 97B1-732.08 của L1, còn H2 đi xe mô tô của H2 cùng nhau đi lên thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh B. Khoảng hơn 16 giờ cùng ngày khi gần đến khu vực nhà của N2 thì gặp N2 đang đứng đợi ở đường. L1 chở N2 và cùng H2 đi ra ngã ba xã P, huyện C, tỉnh B ngồi uống bia. Uống bia đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì L1 hỏi N2 “Bây giờ đi đâu về đâu”, N2 trả lời “Di đâu cũng được”, L1 nói tiếp “Đường về nhà em khó quá, về nhà anh nhé”, N2 đồng ý. Sau đó H2 điều khiển xe đi trước và về nhà. L1 chở N2 đi sau về nhà L1 tại thôn P, xã B, huyện C. Khi về đến nhà thì L1 ngủ cùng anh trai của L1 là Triệu Tòn N4, còn N2 ngủ trên giường của L1. Đến ngày hôm sau (25/7/2022), N2 tiếp tục ở lại nhà L1 chơi, đến tối cùng ngày sau khi ăn cơm xong thì N2 lên giường của L1 nằm chơi điện thoại của L1 còn L1 thì ngồi ở đầu giường xem ti vi, đến khoảng 23 giờ L1 hỏi N2 “Tối nay em cho anh ngủ với nhé”, N2 trả lời “Ừ, đây là giường của anh, muốn ngủ thế nào thì tùy”, sau đó L1 tắt tivi và kéo ri đô che giường rồi nằm ngủ cùng N2. Đến khoảng 02 giờ sáng ngày 26/7/2022, L1 ôm N2 và sờ hai bên ngực của N2 làm N2 tỉnh dậy và quay lại ôm L1, sau đó cả hai quan hệ tình dục. Quan hệ xong thì L1 và N2 tự mặc quần, rồi nằm ngủ đến sáng. N2 tiếp tục chơi ở nhà của L1, đến khoảng 17 giờ ngày 26/7/2022, L1 đưa N2 về nhà N2. Khi đến nhà N2 thì được ông Triệu Minh K1 (bố của N2) mời L1 ở lại ăn cơm, trong bữa cơm L1 có đặt vấn đề xin tìm hiểu N2 thì ông K1 đồng ý. Khi ăn cơm xong, N2 cùng vợ chồng chị gái của N2 và ông K1 đi sang nhà chú của N2 làm hộ thịt trâu, đến khoảng 02 giờ sáng ngày 27/7/2022 thì N2 quay về. Khi đó L1 không ngủ được nên chơi điện thoại nhưng khu vực nhà của N2 không có sóng di động nên L1 đi ra xe mô tô của mình để tìm chỗ có sóng điện thoại thì N2 đòi đi cùng nên L1 chở N2 đi ra cách nhà N2 khoảng 100m thì có sóng. L1 ngồi trên xe mô tô chơi điện thoại của L1 còn N2 chơi điện thoại của N2, được một lúc thì L1 và N2 ngồi xuống vệ cỏ cạnh đường nói chuyện, tâm sự. L1 ngồi ra phía sau ôm N2 và dùng tay trái sờ ngực của N2, tay phải cầm điện thoại, L1 hỏi N2 “Làm cái xong về nhà ngủ nhỉ”, N2 không nói gì nên L1 tiếp tục sờ vào ngực và bộ phận sinh dục của N2, thì N2 đứng dậy, L1 cởi quần của N2 ra khỏi hai chân, L1 cũng tự cởi quần của L1 ra và đỡ N2 nằm xuống đất, L1 nằm đè lên người N2 rồi cả hai quan hệ tình dục. Quan hệ xong L1 và N2 đi về nhà của N2 ngủ đến sáng thì L1 đi về nhà của L1.
6. Triệu Văn C: Khoảng tháng 9 năm 2021, tài khoản Facebook của C là “C chơi rồi” nhận được lời mời kết bạn từ tài khoản Facebook là “Triệu Thị Nguyệt N2” của Triệu Thị Nguyệt N2. C đồng ý kết bạn và từ đó C và N2 thường xuyên nhắn tin, gọi điện hình ảnh nói chuyện với nhau. Khoảng 22 giờ một ngày trong tháng 10 năm 2021, khi C đang ở nhà Dương Đình H (H cũng là bị cáo trong vụ án) tại tổ A, phường S, thành phố B, tỉnh B thì N2 nhắn tin rủ C vào đón N2 tại ký túc xá của Trường THCS xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn để đi chơi. C đồng ý và mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đen, biển kiểm soát 26K4-0099 của H một mình điều khiển xe đi vào xã Đ. Khi đi đến khu vực cầu treo xã Đ, gần trường THCS xã Đ thì gặp N2 đang đứng chờ ở cạnh đường. C dừng xe và hỏi “Em có phải N2 không” thì N2 trả lời “Em đây”, C nói tiếp “Đi ra ngoài này chơi”, N2 hỏi “Đi đâu”, C nói“Ra ngoài này một tí xong thì về”. N2 không nói gì và ngồi lên xe phía sau C. C đèo N2 đi theo hướng thành phố B. Đi được một đoạn thì C nảy sinh ý định quan hệ tình dục với N2 nên khi đến đoạn đường vắng gần sông, cách vị trí đón N2 khoảng 01km thì C dừng xe bên trái đường đầu xe hướng về thành phố B, đuôi xe hướng về trung tâm xã Đ và nói với N2 “Xuống dưới này chơi”, cả hai cùng xuống xe mô tô, C đi trước dùng đèn flash của điện thoại di động, N2 đi sau cũng dùng đèn flash điện thoại để soi đường. Khi đi đến hòn đá to có mặt phẳng sát bờ sông thì C và N2 ngồi trên hòn đá. C hỏi N2 “Sinh năm bao nhiêu, học lớp mấy”, N2 không nói gì. C ôm hôn N2 thì N2 không phản ứng gì nên C đẩy N2 nằm xuống hòn đá, tay trái luồn dưới áo từ bụng lên sờ hai bên ngực của N2 khoảng 01 phút thì C ngồi dậy dùng hai tay kéo quần cả quần dài, quần lót của N2 ra hết khỏi hai chân, rồi đứng dậy cởi quần dài và quần lót của C xuống đến đầu gối, sau đó C quỳ vào giữa hai chân N2 và thực hiện động tác quan hệ tình dục. Quan hệ xong, cả hai mặc lại quần rồi C chở N2 về đến cầu treo gần trường THCS xã Đ, Nga xuống xe đi bộ về trường còn C đi về nhà H ngủ.
Ngày 30/9/2022, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh B giám định thai đối với bị hại Triệu Thị Nguyệt N2. Tại Bản kết luận giám định Pháp y về tình dục số 34/TDTE ngày 04/10/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh B, kết luận:
- Tuổi thai của Triệu Thị Nguyệt N2 là: 21 tuần 03 ngày.
- Tình trạng phát triển của thai nhi: Hiện nay thai đang phát triển bình thường.
- Các nội dung khác liên quan đến thai nhi: không.
Ngày 03/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B giám định dữ liệu số đối với chiếc điện thoại di động của bị hại Triệu Thị Nguyệt N2 và các bị cáo Dương Đình H, Triệu Văn C, Đặng Văn L, Lý Văn S. Tại bản Kết luận giám định số 3725/KLGĐ-KTHS ngày 22/12/2022 của Phòng K2 Công an tỉnh V kết luận: “Khôi phục, trích xuất được dữ liệu đối với mẫu vật giám định. Qua phân tích dữ liệu theo yêu cầu giám định thu được kết quả:
- Trên mẫu A1 (điện thoại di động của Triệu Thị Nguyệt N2): trích xuất được 1826 tập tin ảnh, tổng dung lượng 373 MB; chụp được 01 ảnh thể hiện tin nhắn SMS; 895 ảnh thể hiện tin nhắn các cuộc trò chuyện qua ứng dụng Zalo, 24 ảnh thể hiện tin nhắn các cuộc trò chuyện qua ứng dụng Facebook Messenger.
- Trên mẫu A2 (điện thoại di động của Dương Đình H): Trích xuất được 31 tin nhắn SMS; 1961 tin nhắn Facebook Messenger; 58957 tệp tin ảnh, tổng dung lượng 1,80 GB; 93 ảnh thể hiện tin nhắn các cuộc trò chuyện qua ứng dụng Zalo.
- Trên mẫu A3 (điện thoại di động của Triệu Văn C): trích xuất được 549 tin nhắn SMS; 4567 tập tin ảnh, tổng dung lượng 110 MB; 1259 ảnh thể hiện tin nhắn các cuộc trò chuyện qua ứng dụng Zalo, 414 ảnh thể hiện tin nhắn các cuộc trò chuyện qua ứng dụng Facebook Messenger.
- Trên mẫu A4 (điện thoại di động của Đặng Văn L): trích xuất được 340 tin nhắn SMS; 3600 tập tin ảnh, tổng dung lượng 92,7 MB; 74 ảnh thể hiện tin nhắn các cuộc trò chuyện qua ứng dụng Zalo, 63 ảnh thể hiện tin nhắn các cuộc trò chuyện qua ứng dụng Facebook Messenger.
- Trên mẫu A5 (điện thoại di động của Lý Văn S): trích xuất được 162 tin nhắn SMS; 3059 tập tin ảnh, tổng dung lượng 152 MB; 23 ảnh thể hiện tin nhắn các cuộc trò chuyện qua ứng dụng Zalo, 386 ảnh thể hiện tin nhắn các cuộc trò chuyện qua ứng dụng Facebook Messenger.
Ngày 03/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B trưng cầu Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc giám định tâm thần nội trú đối với bị hại Triệu Thị Nguyệt N2. Tại bản Kết luận giám định Pháp y tâm thần theo trưng cầu số 171/KLGĐ ngày 07/12/2022 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc, kết luận:
- Triệu Thị Nguyệt N2, sinh năm 2007, trú tại thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn bị bệnh Chậm phát triển tâm thần nhẹ - F70 (Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 về các rối loạn tâm thần và hành vi).
- Trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến tháng 9 năm 2022, Triệu Thị Nguyệt N2 bị bệnh chậm phát triển tâm thần nhẹ, hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
- Hiện tại, Triệu Thị Nguyệt N2 bị bệnh chậm phát triển tâm thần nhẹ, hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
Ngày 30/01/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B trưng cầu Viện Khoa học hình sự Bộ Công an giám định ADN đối với con gái do Triệu Thị Nguyệt N2 sinh ra. Tại Kết luận giám định số 571/KL-KTHS ngày 28/02/2023 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an, kết luận: Cháu bé sinh ngày 24 tháng 01 năm 2023 có mẫu gửi giám định là con đẻ của Triệu Thị Nguyệt N2. Lý Kiềm V là cha đẻ của cháu bé sinh ngày 24 tháng 01 năm 2023 (là con đẻ của Triệu Thị Nguyệt N2) có mẫu gửi giám định.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2023/HS-ST ngày 27/7/2023 và Thông báo sửa chữa bổ sung bản án số 13A/TB-ĐC ngày 01/11/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã quyết định:
1. Tuyên bố các bị cáo Lý Kiềm V, Triệu Văn C, Đặng Văn L, Dương Đình H, Triệu Tòn L1, Lý Văn S phạm tội "Hiếp dâm người dưới 16 tuổi".
2. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 142; điểm b, s, khoản 1,khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Văn C 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giam 07/10/2022.
- Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 142; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Kiềm V 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giam 14/10/2022.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 142; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn L 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giam 07/10/2022.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 142; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Đình H 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giam 06/10/2022.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 142; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu T4 Liều 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giam 06/10/2022.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 142; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Văn S 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giam 07/10/2022.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
- Vào các ngày 03, 04, 07 tháng 8 năm 2023, các bị cáo Lý Kiềm V, Đặng Văn L, Dương Đình H, Lý Văn S, Triệu Tòn L1, Triệu Văn C đều có đơn kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt.
- Cùng ngày 08/8/2023, tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn ông Phùng Văn T5 đã nộp thay cho bị cáo Lý Văn S số tiền 10.000.000 đồng; ông Triệu Tòn C3 đã nộp thay cho bị cáo Triệu Tòn L1 số tiền 10.000.000 đồng; bà Lý Mùi D1 đã nộp thay cho bị cáo Triệu Văn C số tiền 10.000.000 đồng; bà Đặng Thị H3 đã nộp thay cho bị cáo Đặng Văn L số tiền 10.000.000 đồng tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn để khắc phục hậu quả;
- Cùng ngày 08/8/2023, đại diện (người giám hộ) cho bị hại (Nga) là ông Triệu Minh K1 (bố bị hại N2) tiếp tục có đơn đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho cả 06 bị cáo.
- Gia đình bị cáo Dương Đình H nộp tài liệu thể hiện ông nội bị cáo là người có công với đất nước, được tặng thưởng huân huy chương và Biên lai thu tiền của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn thể hiện đã nộp số tiền bồi thường là 10.000.000 đồng do Lý Thị Y nộp thay cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt; khai báo thành khẩn, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo Lý Kiềm V đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về cùng bị hại Triệu Thị Nguyệt N2 chăm sóc con chung.
- Gia đình bị cáo Lý Kiềm V xuất trình “Biên bản giao nhận tiền bồi thường” thể hiện đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 12.000.000 đồng, có xác nhận của chính quyền địa phương; Đơn đề nghị của ông Triệu Minh K1 bố bị hại N2 đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lý Kiềm V.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi phân tích các tình tiết, diễn biến của vụ án, xác định Tòa án cấp sơ tẩm đã kết án các bị cáo về tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi là đúng, mức án áp dụng với các bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm có đủ căn cứ xác định các bị cáo đã tác động đến gia đình thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường cho các bị cáo theo quyết định của bản án sơ thẩm; ông Triệu Minh K1 bố của bị hại N2 tiếp tục có nhiều đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số (Dao), trình độ học vấn thấp, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt của cả 06 bị cáo. Trong đó giảm cho bị cáo Lý Kiềm V 01 năm tù; áp dụng thêm quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho 05 bị cáo còn lại mỗi bị cáo từ 02 đến 03 năm tù. Sửa lại quyết định về xử lý vật chứng để thuận lợi cho việc thi hành án.
- Những người bào chữa nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với cả bị cáo Lý Kiềm V để xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự nên được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị hại, các dữ liệu trong điện thoại thu giữ, kết quả giám định... Do đó, Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Trong năm 2021, 2022 tại huyện B, huyện C và thành phố B, tỉnh B, các bị cáo Lý Kiềm V, Đặng Văn L, Dương Đình H, Lý Văn S, Triệu Tòn L1, Triệu Văn C đã thực hiện hành vi giao cấu với bị hại Triệu Thị Nguyệt N2, sinh ngày 15/11/2007. Tại thời điểm N2 bị xâm hại lần đầu (tháng 10/2021) N2 chưa đủ 14 tuổi, tại thời điểm N2 bị xâm hại lần cuối (tháng 9/2022) N2 chưa đủ 15 tuổi. Cụ thể:
Trong tháng 5 và tháng 9 năm 2022 bị cáo Lý Kiềm V đã thực hiện hành vi giao cấu với Triệu Thị Nguyệt N2 04 lần, trong đó: 02 lần vào ngày 06/5/2022 tại nhà nghỉ M1 thuộc tổ A, phường S, thành phố B, tỉnh B và 02 lần vào đêm ngày 22 rạng sáng ngày 23/9/2022 tại nhà nghỉ H4 thuộc tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh B. Hậu quả làm bị hại có thai.
Trong tháng 02 năm 2022 và tháng 5 năm 2022 bị cáo Đặng Văn L đã thực hiện hành vi giao cấu với Triệu Thị Nguyệt N2 04 lần: 02 (hai) lần tại nhà nghỉ H5 thuộc tổ I, phường P, thành phố B thời gian khoảng tháng 02 năm 2022 và 02 (hai) lần tại đường liên thôn Q, Bản G thuộc xã D, thành phố B, tỉnh B, thời gian khoảng tháng 5 năm 2022.
Trong tháng 3 năm 2022 bị cáo Dương Đình H đã thực hiện hành vi giao cấu đối với Triệu Thị Nguyệt N2 02 lần: lần thứ nhất tại lán của gia đình H thuộc khu vực thủy điện Nặm Cắt thuộc thôn Bản C, xã Đ, huyện B, tỉnh B; lần thứ hai tại đường dân sinh thuộc thôn V, xã Đ, huyện B, tỉnh B.
Trong tháng 6 năm 2022 bị cáo Lý Văn S đã thực hiện hành vi giao cấu với Triệu Thị Nguyệt N2 02 lần: một lần tại khu Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh B và một lần tại khu đồi Ngạm Han thuộc thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh B.
Trong các ngày 26 và 27/7/2022 bị cáo Triệu Tòn L1 đã thực hiện hành vi giao cấu đối với Triệu Thị Nguyệt N2 02 lần: lần thứ nhất tại nhà của L1 thuộc thôn P, xã B, huyện C, tỉnh B trong ngày 26/7/2022; lần thứ hai tại đoạn đường thuộc khu Đ thuộc thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh B trong ngày 27/7/2022.
Khoảng tháng 10 năm 2021 bị cáo Triệu Văn C đã thực hiện hành vi giao cấu đối với Triệu Thị Nguyệt N2 01 lần tại bờ suối thuộc thôn Bản Giềng, xã D, thành phố B, tỉnh B.
Tại bản Kết luận giám định Pháp y tâm thần theo trưng cầu số 171/KLGĐ ngày 07/12/2022 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc, kết luận:
- Triệu Thị Nguyệt N2, sinh năm 2007, trú tại thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn bị bệnh chậm phát triển tâm thần nhẹ - F70 (Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 về các rối loạn tâm thần và hành vi).
- Trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến tháng 9 năm 2022, Triệu Thị Nguyệt N2 bị bệnh chậm phát triển tâm thần nhẹ, hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
- Hiện tại, Triệu Thị Nguyệt N2 bị bệnh chậm phát triển tâm thần nhẹ, hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
Tại Kết luận giám định số 571/KL-KTHS ngày 28/02/2023 của V2 Bộ C6, kết luận: Cháu bé sinh ngày 24 tháng 01 năm 2023 có mẫu gửi giám định là con đẻ của Triệu Thị Nguyệt N2. Lý Kiềm V là cha đẻ của cháu bé sinh ngày 24 tháng 01 năm 2023 (là con đẻ của Triệu Thị Nguyệt N2) có mẫu gửi giám định.
Mặc dù việc các bị cáo quan hệ tình dục với bị hại Triệu Thị Nguyệt N2 là do bị hại N2 hoàn toàn tự nguyện, nhưng bị hại N2 là người bị mắc bệnh chậm phát triển tâm thần nhẹ, hạn chế khả năng nhận thức, hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Do đó, căn cứ điểm b, khoản 7, Điều 3 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP, ngày 01/10/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi, Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án các bị cáo về tội: “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại Điều 142 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của các bị cáo về việc đề nghị được giảm nhẹ hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là vi phạm quy định của pháp luật hình sự, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, sự phát triển lành mạnh cả về thể chất và tinh thần của bị hại Triệu Thị Nguyệt N2, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Hành vi phạm tội của mỗi bị cáo trong vụ án là độc lập, do đó phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả đã gây ra cho bị hại và xã hội.
Xét thấy các bị cáo đều có nhân thân tốt, là người dân tộc (Dao), trình độ học vấn thấp (Từ lớp 4 đến lớp 7/12). Sau khi phạm tội, tại giai đoạn điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động người thân trong gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, cho đến phiên tòa phúc thẩm các bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền mà người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu và theo quyết định của bản án sơ thẩm; người đại diện hợp pháp của bị hại có nhiều đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt tù cho các bị cáo; bị cáo H gia đình có công với đất nước, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội và người bào chữa cho các bị cáo về việc đề nghị giảm hình phạt, trong đó áp dụng thêm quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với 06 bị cáo: Lý Kiềm V, Lý Văn S, Triệu Tòn L1, Triệu Văn C, Đặng Văn L, Dương Đình H để quyết định mức án dưới mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Triệu Minh K1 và bà Triệu Thị C4 là bố, mẹ đẻ và là người đại diện hợp pháp của bị hại Triệu Thị Nguyệt N2 yêu cầu mỗi bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại 12.000.000 đồng. Tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm, ông Triệu Minh K1 và bà Triệu Thị C4 xác nhận đã nhận được một khoản tiền của gia đình các bị cáo bồi thường, gồm gia đình bị cáo Lý Kiềm V 5.000.000 đồng; gia đình của 05 bị cáo còn lại, mỗi gia đình đã bồi thường 2.000.000 đồng. Tới phiên tòa phúc thẩm, gia đình các bị cáo đã xuất trình các Biên lai thu của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn, xác nhận của gia đình bị hại thể hiện đã thực hiện bồi thường cho bị hại toàn bộ số tiền theo yêu cầu của gia đình bị hại và quyết định của bản án sơ thẩm. Cụ thể:
- “Biên bản giao nhận tiền bồi thường” thể hiện ngày 04/10/2023 bà Lý Mùi C5 là chị ruột của bị cáo Lý Kiềm V đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 12.000.000 đồng thay cho bị cáo Lý Kiềm V (có xác nhận của chính quyền địa phương);
- Biên lai thu của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn số 0000192 ngày 08/8/2023 thể hiện ông Phùng Văn T5 đã nộp thay cho bị cáo Lý Văn S số tiền 10.000.000 đồng;
- Biên lai thu của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn số 0000191 ngày 08/8/2023 thể hiện ông Triệu Tòn C3 đã nộp thay cho bị cáo Triệu Tòn L1 số tiền 10.000.000 đồng;
- Biên lai thu của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn số 0000193 ngày 08/8/2023 thể hiện bà Lý Mùi D1 đã nộp thay cho bị cáo Triệu Văn C số tiền 10.000.000 đồng;
- Biên lai thu của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn số 0000194 ngày 08/8/2023 thể hiện bà Đặng Thị H3 đã nộp thay cho bị cáo Đặng Văn L số tiền 10.000.000 đồng.
- Biên lai thu của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn số 0000001 ngày 24/11/2023 thể hiện đã nộp số tiền bồi thường là 10.000.000 đồng do bà Lý Thị Y nộp thay cho bị cáo Dương Đình H.
Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận các bị cáo Lý Văn S, Triệu Tòn L1, Triệu Văn C, Đặng Văn L, Lý Kiềm V và Dương Đình H đã thực hiện xong toàn bộ phần trách nhiệm dân sự theo quyết định của bản án sơ thẩm.
Về xử lý vật chứng: Do các bị cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ về bồi thường dân sự, do đó Hội đồng xét xử sẽ sửa quyết định của bản án sơ thẩm đối với các vật chứng mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho các bị cáo.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Do các bị cáo Lý Kiềm V, Triệu Văn C, Đặng Văn L, Dương Đình H, Lý Văn S và Triệu Tòn L1 kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo: Lý Kiềm V, Đặng Văn L, Dương Đình H, Lý Văn S, Triệu Tòn L1, Triệu Văn C về việc đề nghị giảm nhẹ hình phạt. Sửa phần quyết định về hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2023/HS-ST ngày 27/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn như sau:
1. Tuyên bố các bị cáo Lý Kiềm V, Triệu Văn C, Đặng Văn L, Dương Đình H, Triệu Tòn L1, Lý Văn S phạm tội: "Hiếp dâm người dưới 16 tuổi".
2. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 142; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Văn C 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/10/2022.
- Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 142; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Kiềm V 11 (Mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 14/10/2022.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 142; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo: Đặng Văn L, Dương Đình H, Triệu Tòn L1, Lý Văn S.
- Xử phạt bị cáo Đặng Văn L 10 (Mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/10/2022.
- Xử phạt bị cáo Dương Đình H 10 (Mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 06/10/2022.
- Xử phạt bị cáo Triệu Tòn L1 10 (Mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 06/10/2022.
- Xử phạt bị cáo Lý Văn S 10 (Mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/10/2022.
3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận các bị cáo Lý Văn S, Triệu Tòn L1, Triệu Văn C, Đặng Văn L, Lý Kiềm V và Dương Đình H đã thực hiện xong toàn bộ phần trách nhiệm dân sự theo quyết định của bản án sơ thẩm (Mỗi bị cáo đã bồi thường đủ 12.000.000 đồng).
4. Về xử lý vật chứng: Trả lại các vật chứng sau cho các bị cáo:
4.1 Trả cho bị cáo Triệu Tòn L1:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, mặt sau màu xanh dương, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng. Kiểu máy Vivo 1906, số IMEI 1: 860749056532279; IMEI 2: 860749056532261; gắn hai sim số thuê bao: 0582.484.148 và 0916.513.264.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại: Air Blade, màu sơn đỏ đen; số máy: JA36E0471509; số khung: RLHJA363XGY017405, biển số đăng ký: 97B1-732.08
- 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 040299, tên chủ xe: Triệu Tòn Liều, địa chỉ: thôn P, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Biển số đăng ký: 97B1-732.08. Ngày cấp: 13/02/2018, nơi cấp: Công an tỉnh B.
4.2 Trả cho bị cáo Lý Kiềm V:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, mặt sau màu xanh, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng. Kiểu máy V2110, số IMEI 1: 861128058695310; IMEI 2: 861128058695302; gắn sim số thuê bao: 0963.782.195.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: Wave, màu sơn đen bạc; số máy: JA39E01128703; số khung: RLHJA391XKY267391, biển số đăng ký: 11B1-387.55.
+ 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 034965, tên chủ xe: Lý Kiềm Vần, địa chỉ: xóm B, xã P, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Biển số đăng ký: 11B1-387.55. Ngày cấp: 19/09/2019, nơi cấp: Phòng C7 Công an tỉnh C.
4.3. Trả cho bị cáo Dương Đình H: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu trắng, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng. Kiểu máy IPhone 6, số IMEI: 354449061214665, gắn sim số thuê bao: 0814.508.856.
4.4. Trả cho bị cáo Triệu Văn C: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng. Kiểu máy Galaxy Note10 Lite số IMEI 1: 355045111544744; IMEI 2: 355046111544742; gắn hai sim số thuê bao: 0326.459.406, 0867.050.424.
4.5. Trả cho bị cáo Đặng Văn L: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, mặt lưng màu đen, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng. Kiểu máy Vivo 1916, số IMEI 1: 8659866049604412; IMEI 2: 8659866049604404; gắn sim số thuê bao: 0392.100.175.
4.6. Trả cho bị cáo Lý Văn S: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, mặt lưng màu xám, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 861673050037334; IMEI 2: 861673050037326; gắn hai sim số thuê bao: 0901.197.517, 0338.179.984.
5. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Lý Kiềm V, Triệu Văn C, Đặng Văn L, Dương Đình H, Lý Văn S và Triệu Tòn L1 không phải chịu.
6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh Bắc Kạn; - Công an tỉnh Bắc Kạn; - Cục THADS tỉnh Bắc Kạn; - Trại Tạm giam Công an tỉnh Bắc Kạn; - Các Bị cáo (qua trại tạm giam); - Lưu HS, PHCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Hải Thanh |