vanban.org

Bản án 893/2025/HSST — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 30/12/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng S phạm tội Tổ chức đánh bạc; bị cáo Nguyễn Đình Q và Lương Thị T2 phạm tội Đánh bạc.

*Xử phạt: Trần Hoàng S 24 (Hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND phường T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hoàng S và đồng phạm - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng S phạm tội Tổ chức đánh bạc; bị cáo Nguyễn Đình Q và Lương Thị T2 phạm tội Đánh bạc.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 322 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
--------------
Bản án số: 893/2025/HSST
Ngày: 30/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

+ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thanh Tú

+ Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phí Văn Nghi

2. Bà Nguyễn Thục Lương

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Từ Khánh Duy – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 882/2025/HSST ngày 15/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 881/2025/QĐXXST-HS ngày 16/12/2025 đối với các bị cáo:

1. Trần Hoàng S (tên gọi khác: Không), sinh năm 1977 tại thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; ĐKNKTT: số A phố T, phường C, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: số nhà A ngõ A đường H, phường T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trần Cơ H (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1954; Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; Có vợ là: Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 1978; Bị cáo có 02 con; con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2007; D chỉ bản số 3377 lập ngày 5/9/2025; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tự thú ngày 28/7/2025; tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/7/2025. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1 Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.

2. Nguyễn Đình Q (tên gọi khác: Không), sinh năm 1982 tại tỉnh Hưng Yên; Giới tính: Nam; ĐKNKTT: số E ngõ D đường N, phường T, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Căn hộ H chung cư T ngõ D đường N, phường T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Giảng viên Học viện C; Là Đảng viên đã bị Đình chỉ sinh hoạt đảng ngày 15/9/2025; Con ông: Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1956; Con bà: Bùi Thị T1, sinh năm 1960; Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là com thứ nhất; Có Vợ là: Nguyễn Thị Thanh S1, sinh năm 1984; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2010, com nhỏ sinh năm 2020; D chỉ bản số 3447 lập ngày 5/9/2025; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt (đầu thú) ngày 28/7/2025; tạm giữ ngày 29/7/2025; thay đổi biện pháp ngăn chặn ngày 06/8/2025. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.

3. Lương Thị T2 (tên gọi khác: Không), sinh năm 1970 tại thành phố Hà Nội; Giới tính: Nữ; ĐKNKTT: Tổ 15 Cụm D, phường K, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: số D, ngõ D đường K, phường K, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lương Vũ L1 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị N (đã chết); Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ 6; Có Chồng là: Lê Quang M, sinh năm 1969; Bị cáo có 02 con; con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2010; D chỉ bản số 3446 lập ngày 5/9/2025; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt (đầu thú) ngày 29/7/2025; tạm giữ ngày 30/7/2025; thay đổi biện pháp ngăn chặn ngày 06/8/2025; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 27/7/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiến hành triệu tập Nguyễn Tuyết A1 (sinh năm 1984; trú tại số nhà B ngách B đê T, phường B, thành phố Hà Nội) để điều tra, làm rõ các nội dung liên quan trong vụ án Chống người thi hành công vụ, Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, Cướp tài sản, Mua bán trái phép chất ma túy, Che giấu tội phạm và Không tố giác tội phạm xảy ra trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Tại Cơ quan điều tra, ngoài hành vi liên quan đến vụ án đang điều tra, Tuyết A1 khai nhận: Đầu năm 2025, Tuyết A1 mở quán bán hàng nước tại khu vực ngõ B Đ, phường Đ, thành phố Hà Nội và nhận thêm việc ghi các số Lô, số Đề cho 1 số người chơi (không rõ họ tên, địa chỉ) rồi chuyển Giang Thúy H1 (sinh năm 1975; trú tại căn hộ B, tòa H phường T, thành phố Hà Nội) để hưởng tiền chênh lệch. Giang Thúy H1 sử dụng 02 các số điện thoại là 0987105376 và 0989667074 để nhận các số Lô, số Đề do Tuyết A1 chuyển. Theo thoả thuận, Tuyết A1 thu của khách 1 điểm Lô = 21.900 đồng/điểm thì chuyển cho H1 là 21.800 đồng/điểm (hưởng lợi 100 đồng/điểm); đối với số Đề thì Tuyết A1 thu của người chơi 9.000 đồng/10.000 đồng tiền Đề thì chuyển cho H1 8.500 đồng/10.000 đồng tiền Đề (hưởng lợi 500 đồng/10.000 đồng tiền Đề); việc chuyển bảng (ghi số Lô, số Đề) giữa Tuyết A1 và H1 được thực hiện qua ứng dụng Zalo trên điện thoại di động; việc thanh toán tiền thắng thua được thực hiện bằng tiền mặt và gặp nhau trực tiếp tại khu vực đường N, Hà Nội. Theo Tuyết A1 khai, hàng ngày Tuyết A1 ghi số Lô, đề dao động được khoảng trên dưới 5.000.000 đồng/ngày; đối với chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 8 mà Tuyết A1 sử dụng để chuyển bảng Lô, đề đã bị rơi mất từ đầu tháng 7/2025. Và cũng từ thời điểm này, Tuyết A1 cũng nghỉ không ghi các số Lô, đề nữa.

Hành vi tổ chức đánh bạc của Trần Hoàng S đối với Nguyễn Đình Q:

Ngày 28/7/2025, Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập đối với Giang Thúy H1 tại địa chỉ căn hộ B tòa H phường T, thành phố Hà Nội nhưng H1 không có mặt tại nơi cư trú. Tuy nhiên xác định, H1 có thuê nhà (số A ngõ D đường N, phường T, thành phố Hà Nội) của chị Nguyễn Thị M1 (sinh năm 1978; trú tại số A ngõ D đường N, phường T, thành phố Hà Nội) để mở bán Xổ số kiến thiết miền B nên Cơ quan điều tra tiếp tục đến nơi H1 thuê để triệu tập H1. Khi đến nơi, tại đây chỉ có Trần Hoàng S (sinh năm 1977; trú tại số nhà A ngõ A đường H, phường T, thành phố Hà Nội). Sau khi biết Cơ quan điều tra triệu tập Giang Thúy H1 để làm rõ về hành vi nhận số L2, số Đề thì S đã tự thú với Cơ quan điều tra về hành vi đánh bạc của mình. Đồng thời, S giao nộp 02 chiếc điện thoại (01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu đen xám và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xám). Trong đó, chiếc điện thoại Iphone 11 promax màu xám có hình ảnh S đánh bạc vào ngày 27/7/2025.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Hoàng S khai nhận: S ghi số L2, đề của những người chơi (không rõ họ tên, địa chỉ) rồi chuyển cho Giang Thúy H1 để hưởng tiền chênh lệch. Theo thoả thuận, H1 nhận của S 1 điểm Lô = 21.800 đồng, số Đề là 7.300 đồng/ 10.000 đồng (73%). Còn S bán cho khách chơi 1 điểm lô = 22.000 đồng (hưởng lợi 200 đồng/1 điểm); với số Đề bán nếu bán cho khách chơi 10.000 đồng thì S khuyến mãi thành 13.000 đồng (tức là thu của khách tương đương 77%) và S hưởng lợi 400 đồng/10.000 đồng tiền Số đề (4%). Đánh bạc dưới hình thức số Lô, số Đề là dựa trên kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng hàng ngày; người chơi so số mình đã chọn với 02 số (hàng chục và hàng đơn vị) của 27 giải thưởng kết quả xổ số để tính thắng thua.

Kết quả điều tra xác định ngày 27/5/2025, Trần Hoàng S đã bán các số Lô cho Nguyễn Đình Q (sinh năm 1982; trú tại số E ngõ D N, phường T, thành phố Hà Nội) thông qua ứng dụng Zalo cài đặt trên điện thoại di động; S sử dụng tài khoản Zalo “H” đăng ký bằng số điện thoại là 0941690925; Nguyễn Đình Q sử dụng tài khoản “Nguyễn Đình Q” đăng ký bằng số điện thoại 0902245679 để nhắn tin chuyển số Lô, cho nhau cụ thể:

- Tin nhắn 1: “lo:32-23-48-84, mỗi con 50đ; 64-18-91-10-90-mỗi con 40đ; 62-20-40-50-94-07-moi con 35đ; 31-77-83-71-44-79-97-môi con 20đ; 41-47-19-97-13-16-53-60-55, mỗi con 15đ. (tức là số lố 32,23,48,84 mỗi con 50 điểm; lô 64,18,91,10,90 mỗi con 40 điểm; lô 62,20,40,50,94,07 mỗi con 35 điểm; lô 31,77,83,71,44,79,97 mỗi con 20 điểm; lô 41, 47,19,97,13,16,53,60,55 mỗi con 15 điểm). Tổng số tiền Q mua số lô là 885 điểm x 22.000 đồng = 19.470.000 đồng.

- Tin nhắn 2: “tổng số 685 điểm lô x22.000 đồng. Tổng số tiền Q mua số lô là 15.070.000đồng.

Như vậy, ngày 27/5/2025 Q đã mua các số Lô của S với tổng số tiền cược là 34.540.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng ngày 27/7/2025, Q trúng tổng 315 điểm x 80.000 đồng/1 điểm =25.200.000 đồng. Xác định số tiền Q tham gia đánh bạc là 59.740.000 đồng.

Hành vi đánh bạc của Nguyễn Đình Q với Lương Thị T2:

Ngày 28/7/2025, Nguyễn Đình Q đến Cơ quan điều tra đầu thú và giao nộp cho Cơ quan điều tra chiếc điện thoại Iphone 11 Promax màu trắng của Q. Tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại, Cơ quan điều tra phát hiện trong mục tin nhắn trên ứng dụng Zalo của S có nội dung ghi các số Lô với tài khoản Zalo “Lương Tuyết” - được đăng ký bằng số sim 0372602610. Cơ quan điều tra đã xác minh, xác định Lương Thị T2 (sinh năm 1970; trú tại tổ A Cụm D, phường K, thành phố Hà Nội) là người sử dụng Zalo đăng ký bằng số sim 0372602610.

Kết quả điều tra xác định: Hàng ngày, Lương Thị Tuyết bán hàng nước và nhận trông giữ xe tại khu vực trước cửa số nhà D ngõ D đường K, phường K, thành phố Hà Nội. Từ khoảng năm 2022, Nguyễn Đình Q quen biết Lương Thị Tuyết . Quá trình quen biết, Q và T2 thoả thuận đánh bạc với nhau dưới hình thức chơi L2, đề; việc chơi Lô, đề được gửi tin nhắn qua ứng dụng Zalo cho nhau. Hồi 17 giờ 58 phút ngày 27/7/2025, Q sử dụng Zalo “Nguyễn Q” nhắn tin đến Zalo của T2 để ghi các số Lô. Cụ thể như sau:

- Các số lô: 98, 78, 52, 32, 23, 48, 84 mỗi số 35 điểm.

- Các số lô: 59, 30, 46, 37, 61, 92, 56, 89, 64, 18, 91, 10, 90 mỗi số 25 điểm.

- Các số lô: 68, 27, 04, 49, 29, 62, 20, 40, 50, 94, 07 mỗi số 15 điểm.

- Các số lô: 31, 77, 83, 71, 44, 79, 87 mỗi số 10 điểm.

- Các số lô: 22, 81, 58, 74, 01, 41, 47, 19, 97, 13, 16, 53, 60, 55 mỗi số 5 điểm.

Tổng số điểm lô Quỳnh ghi của T2 là: 875 điểm lô x 22.000 đồng/1 điểm = 19.250.000đồng.

Đối chiếu với Kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng ngày 27/7/2025, Q trúng trúng tổng 205 điểm x 80.000 đồng/ 1 điểm trúng = 16.400.000 đồng

Tổng số tiền T2 đánh bạc với Q ngày 27/7/2025 là: 19.250.000 đồng + 16.400.000 đồng = 35.650.000 đồng.

Ngày 29/7/2025, Lương Thị T2 đến Cơ quan điều tra đầu thú, giao nộp 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng, số IMEI: 356547105990600, gắn SIM số: 0372602610 và khai nhận hành vi đánh bạc của mình. T2 khai số Lô bán cho Q thì T2 không chuyển cho ai khác.

Quá trình điều tra vụ án ngày 13/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định Kỹ thuật số và điện tử đối với mẫu cần giám định là 04 chiếc điện thoại đã thu giữ của Trần Hoàng S, Nguyễn Đình Q, Lương Thị Tuyết .

Tại bản Kết luận giám định số 7643/KL-KTHS ngày 06/11/2025 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận:

“…Đối với 04 chiếc điện thoại vật chứng gửi giám định, kết quả gửi kèm theo 01 (một) Thiết bị lưu trữ dữ liệu. Tiến hành kiểm tra dữ liệu tin nhắn, hình ảnh trích xuất và phục hồi trong các mục SMS, Z, Facebook Messenger của 04 chiếc điện thoại trên đến nay chưa phát hiện vi phạm pháp luật nào khác của các đối tượng. Không phát hiện nội dung tin nhắn liên quan trong 02 chiếc điện thoại di động gửi giám định của Trần Hoàng S thể hiện việc chuyển bảng ghi các số lô, số đề và thanh toán đối với Giang Thúy H1...”.

Ngày 18/9/2025, Giang Thúy H1 đã đến Cơ quan điều tra làm việc. H1 thừa nhận có quen biết xã hội với Nguyễn Tuyết A1 và Trần Hoàng S. Tuy nhiên, H1 không thừa nhận việc nhận số Lô, đề do Tuyết A1 và S chuyển. Tài liệu, chứng cứ thu thập chưa đủ căn cứ để xác định Giang Thúy H1 và Nguyễn Tuyết A1 có hành vi nhận và chuyển các sô Lô, đề.

Tại bản cáo trạng số 87/CT-VKSHN-P2 ngày 25/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố: bị cáo Trần Hoàng S về tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Đình Q về tội Đánh bạc theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Lường Thị T3 về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi phân tích tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội cũng như vai trò của các bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Trần Hoàng S từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Đình Q từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Lương Thị T2 từ 18 đến 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ. 36 đến 40 tháng.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

*Về biện pháp tư pháp: Đề nghị tịch thu, phát mại, sung quỹ Nhà nước của các bị cáo những chiếc điện thoại di động liên quan đến hành vi phạm tội. Trả lại cho bị cáo S chiếc điện thoại di động không liên quan đến hành vi phạm tội.

Lời nói sau cùng: Các Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có bị cáo nào khiếu nại về hành vi tố tụng của những người tiến hành tố tụng, nên các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.

Về nội dung:

Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với những lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ đã có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 27/7/2025, tại nhà số A ngõ D đường N, phường T, thành phố Hà Nội, Trần Hoàng S đã Tổ chức đánh bạc dưới hình thức bán số lô, đề cho Nguyễn Đình Q với tổng số tiền 59.740.000 đồng. S hưởng lợi số tiền 9.340.000 đồng.

Ngày 27/7/2025, tại tổ A cụm D, phường K, thành phố Hà Nội, Lương Thị T2 đánh bạc với Nguyễn Đình Q dưới hình mua bán số lô, đề với tổng số tiền là 35.650.000 đồng, Nguyễn Đình Q thắng số tiền 16.400.000 đồng.

Tổng số tiền Nguyễn Đình Q đã thực hiện hành vi Đánh bạc ngày 27/7/2025 đối với Trần Hoàng S và Lương Thị T2 với tổng số tiền là: 59.740.000 đồng + 35.650.000 đồng = 95.390.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Trần Hoàng S đã đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ Luật Hình sự với tình tiết “Tổng số tiền, hiện vật dùng để đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên”.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Đình Q đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự với tình tiết “Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên”.

Hành vi của bị cáo Lương Thị T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

*Về tính chất đồng phạm của vụ án: Vụ án không có tính chất đồng phạm. Bị cáo Q chơi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề với bị cáo S và bị cáo T2 là độc lập. Bị cáo S nhận ghi số lô đề của bị cáo Q, sau đó chuyển nhằm mục đích hưởng lợi chênh lệch nên hành vi của bị cáo là tổ chức đánh bạc. Bị cáo T2 nhận ghi số lô đề nhưng không chuyển đi đâu, tự chơi, tự trả tiền thắng thua với bị cáo Q nên bị cáo T2 và bị cáo Q đánh bạc với nhau.

Hành vi của các bị cáo có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tư an ninh xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội. Vì vậy, cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự đối với các bị cáo nhằm mục đích răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và loại hình phạt áp dụng đối với các bị cáo:

1. Bị cáo Trần Hoàng S thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Khi cơ quan công an chưa phát hiện ra hành vi phạm tội thì bị cáo đã chủ động khai báo ra hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền thu lời bất chính nên có căn cứ áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo cũng đã bị tạm giam một thời gian nên có thể xem xét cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong cộng đồng.

2. Bị cáo Nguyễn Đình Q thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền thu lời bất chính; bị cáo có nhiều thành tích tốt trong công tác, nhiều năm liền được tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua cơ sở nên có căn cứ áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên có thể xem xét cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong cộng đồng.

3. Bị cáo Lương Thị T2 thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên có căn cứ áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên có thể xem xét cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong cộng đồng.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo S thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc có mục đích hưởng lợi nên cần áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Q, T2.

Về biện pháp tư pháp:

- Bị cáo Trần Hoàng S thu lời từ hành vi tổ chức đánh bạc là 9.340.000 đồng, bị cáo Q thắng số tiền đánh bạc là 16.400.000 đồng, bị cáo T2 không hưởng lợi do phải trả tiền thắng bạc cho bị cáo Q. Vì vậy, cần buộc các bị cáo S, Q phải truy nộp số tiền thu lời bất chính để sung quỹ Nhà nước. Các bị cáo S, Q đã nộp số tiền thu lời bất chính tại Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội nên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xám, lắp sim số 0932288155 tại Biên bản kiểm tra điện thoại lập ngày 28/7/2025 có lưu giữ trong thư mục hình ảnh có ảnh chụp nội dung màn hình nền ứng dụng tin nhắn zalo, tin nhắn ghi các số lô đề; đối với chiếc điện thoại di động Iphone 11 màu đen xám, lắp sim số 0941690925, theo Biên bản kiểm tra điện thoại lập ngày 28/7/2025 ghi nhận điện thoại này có đăng ký tài khoản zalo “Hoàng Sơn”, có nội dung tin nhắn zalo với tài khoản “Quỳnh TX” về việc ghi các số lô đề. Vì vậy, có căn cứ xác định 02 chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo S đều liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu, phát mại, sung quỹ Nhà nước.

- Đối với những chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo T2, Q đều có căn cứ xác định liên quan đến hành vi Đánh bạc nên cần tịch thu, phát mại, sung quỹ Nhà nước.

5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng S phạm tội Tổ chức đánh bạc; bị cáo Nguyễn Đình Q và Lương Thị T2 phạm tội Đánh bạc.

Căn cứ điểm c khoản 1 điều 322; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

*Xử phạt: Trần Hoàng S 24 (Hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho UBND phường T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.

Phạt bổ sung là phạt tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

Căn cứ Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo nếu bị cáo không đang bị tạm giữ, tạm giam trong vụ án khác.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 322; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

*Xử phạt: Nguyễn Đình Q 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho UBND phường T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

*Xử phạt: Lương Thị T2 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho UBND phường K, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

*Về biện pháp tư pháp:

- Truy nộp số tiền 9.340.000 (Chín triệu ba trăm bốn mươi nghìn) đồng của bị cáo Trần Hoàng S để sung quỹ Nhà nước. Tạm giữ số tiền 9.340.000 đồng bị cáo đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0007318 ngày 29/12/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội để đảm bảo thi hành án.

- Truy nộp số tiền 16.400.000 (Mười sáu triệu bốn trăm nghìn) đồng của bị cáo Nguyễn Đình Q để sung quỹ Nhà nước. Tạm giữ số tiền 16.400.000 đồng bị cáo đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0007309 ngày 29/12/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội để đảm bảo thi hành án.

- Tịch thu, phát mại, sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone màu đen xám, số IMEI 352900116512182 gắn 01 sim, đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động; 01 điện thoại di động Iphone màu trắng, số IMEI 353947103506015 gắn 01 sim, đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động; 01 điện thoại di động Iphone màu xám, số IMEI 353891105928738 gắn 01 sim, đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động; 01 điện thoại di động Iphone màu trắng, số IMEI 356547105990600, gắn 01 sim, đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động.

Toàn bộ các vật chứng hiện đang lưu giữ tại Kho vật chứng Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/11/2025 căn cứ Quyết định chuyển vật chứng số 64/QĐ-VKSHN-P2 ngày 14/11/2025.

* Về án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 mục I Danh mục án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

*Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ