- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thiên A - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố b cáo Nguyễn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Ngh
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2025/HS-ST Ngày: 27-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguy n Th Hoàng Ph ng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Anh Dũng – Cán bộ h u trí.
Bà V ng Th Khánh Loan - Cán bộ h u trí.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển – Th ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph B, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Nh Nên – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xét xử s thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết đ nh đ a vụ án ra xét xử số 67/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2015 đối với b cáo:
Họ và tên: Nguyễn A; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1992, tại tỉnh Đồng Tháp; N i đăng ký th ờng trú: Tổ 13, ấp Đông Hải, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai; N i ở: Không có n i ở nhất đ nh; Quốc t ch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công Giáo; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 7/12; Họ và tên cha: Nguy n Văn Hòa, sinh năm 1947 (đã chết); Họ và tên mẹ: Bùi Th Huyền, sinh năm 1950 (còn sống); B cáo là con út trong gia đình và ch a có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:
- Ngày 30/3/2008, b Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai (Bản án số 61/2008/HSST) xử phạt 02 (Hai) năm tù về tội “C ớp giật tài sản” quy đ nh tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999. Khi phạm tội b cáo Ân ch a đủ 16 tuổi.
- Ngày 17/4/2008, b Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai (Bản án số 75/2008/HSST) xử phạt 04 (Bốn) năm tù về tội “C ớp tài sản” quy đ nh tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999. Khi phạm tội, Ân ch a đủ 16 tuổi.
- Ngày 19/12/2008, b Tòa án nhân dân huyện L Thành, tỉnh Đồng Nai (Bản án số 281/2008/HSST) xử phạt 05 (Năm) năm tù về tội “C ớp tài sản” quy đ nh tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 61/2008/HSST ngày 30/3/2008 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai và Bản án số 75/2008/HSST ngày 17/4/2008 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai là 11 (M ời một) năm tù. Ngày 03/02/2016, Ân chấp hành xong hình phạt tù. Khi phạm tội, Ân ch a đủ 16 tuổi.
B cáo b bắt truy nã và b giam giữ từ ngày 26/6/2024 cho đến nay. Hiện b can đang b tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai (B5). (B cáo có mặt).
- Bị hại:
1/ Bà Nguy n Th L, sinh năm 1980
Đ a chỉ: Ấp 1, xã Thạnh Phú, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
2/ Bà Đặng Th H, sinh năm 1995
Đ a chỉ: Nhà số 23/87, khu phố 12, ph ờng H, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.
3/ Ông Đỗ Đức L, sinh năm 1996
Đ a chỉ: Nhà số 23/87, khu phố 12, ph ờng H, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:
Nguy n A, Phạm Nhật Tú, Nguy n Minh Tâm có quan hệ là bạn quen biết nhau. Để có tiền tiêu xài, từ ngày 05/10/2023 đến ngày 06/10/2023, Tú, Ân và Tâm cùng nhau thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể nh sau:
- Vụ thứ nhất: Khoảng 14 giờ ngày 05/10/2023, Ân rủ Tú đi trộm cắp tài sản lấy tiền tiêu xài, Tú đồng ý.
Khoảng 14 giờ phút ngày 05/10/2023, Ân cùng với Tú và anh Nguy n Hoàng Huy (sinh năm 1987, đăng ký th ờng trú: 22/11, tổ 15, khu phố 9, ph ờng Tân Hòa, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, bạn của Ân, Tú) cùng đi uống cà phê tại quán ở ph ờng H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Đến 16 giờ cùng ngày, Ân m ợn xe mô tô hiệu sirius 60B1-413.78 của Huy để sử dụng nh ng anh Huy không biết Ân m ợn xe để đi trộm cắp tài sản nên đã cho Ân m ợn xe. Ân giao xe mô tô biển số 60B1-413.78 cho Tú điều khiển chở Ân đi đến khu vực ph ờng Trảng Dài, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để trộm cắp. Khi đến tr ớc nhà thuộc tổ 40, khu phố 3, ph ờng Trảng Dài, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (do anh Nguy n Thế Thông làm chủ), Ân và Tú phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Future biển số 67K1-617.12 của ch Nguy n Th L (sinh năm 1980, ngụ tại ấp Bình Tây 1, xã Phú Bình, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) đang dựng tr ớc hiên nhà anh Thông không có ng ời trông coi. Tú ngồi trên xe nổ máy chờ sẵn, cảnh giới, Ân xuống xe lén đi đến dùng đoạn sắt chữ L (đoạn sắt dài khoảng 07cm, đầu dẹp, gắn vào cờ lê bằng sắt hình chữ L) bẻ phá khóa xe mô tô Future biển số 67K1-617.12. Sau đó Ân ngồi lên xe mô tô biển số Future 67K1-617.12 trộm đ ợc nổ máy điều khiển bỏ chạy thì ch Lang, anh Thông phát hiện chạy đuổi theo tri hô nh ng không đuổi k p. Sau khi chiếm đoạt đ ợc xe của ch Lang, Ân và Tú điều khiển xe chạy đến nhà của Vũ Đức Ph ớc (sinh năm 1990, ngụ tại 25B/7, khu phố 5A, ph ờng Tân Biên, thành phố B, tỉnh Đồng Nai). Lúc này Ph ớc không có nhà và có Huy (ngủ đ a chỉ nêu trên) ở tại nhà Ph ớc. Ân, Tú cất giấu xe mô tô biển số Future 67K1-617.12 trong phòng khách. Sau đó, Ân tráo biển số xe Future 67K1-617.12 gắn sang xe mô tô sirius biển số 60B1-413.78 và để xe lại nhà Ph ớc. Tú và Ân cũng bỏ đi về nhà. Cùng ngày, ch Lang đến Công an ph ờng Trảng Dài, thành phố B trình báo vụ việc trên.
- Vụ thứ hai: Khoảng 23 giờ cùng ngày, Tú điều khiển xe Future, gắn biển số 60B1-413.78 chạy đến khu vực nhà thờ “Phúc Lâm”, ph ờng H, thành phố B để ch i thì gặp Tâm. Tú điều khiển xe Future chở Tâm đi trộm chim cảnh nh ng ch a trộm đ ợc thì Ân gọi điện thoại cho Tú nói đến khu vực sân bóng thuộc khu phố 6, ph ờng Tân Biên đón Ân. Tú, Tâm chạy xe đến điểm hẹn đón Ân. Sau đó, Tú điều khiển xe Future chở Tâm, Ân chạy về nhà. Trên đ ờng đi về đến tr ớc khu nhà trọ số 23/87, khu phố 12, ph ờng H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì Ân thấy có nhiều xe mô tô đang dựng tr ớc cửa các phòng trọ, các phòng trọ đã khóa cửa đi ngủ. Ân rủ Tú, Tâm trộm cắp các xe mô tô để trong dãy trọ nêu trên, tất cả đồng ý.
Ân và Tâm xuống xe đi vào khu nhà trọ trên, quan sát thấy cửa cổng khóa. Tú chở Ân đi tìm dụng cụ bẻ khóa cổng. Đi đ ợc khoảng 100 mét thì Ân xuống xe nhặt 01 thanh sắt hình trụ kích th ớc khoảng 30cmx01cm cùng với Tú quay lại khu nhà trọ trên. Tú ngồi trên xe cảnh giới, Tâm đứng tr ớc cổng, còn Ân vào khu trọ dùng thanh sắt bẻ khóa cổng. Sau đó Ân lẻn vào trong khu nhà trọ lấy móc ph i quần áo bằng kẽm buộc chặt các khoen cửa bên ngoài phòng trọ của ch Đặng Th H (sinh năm 1995, đăng ký th ờng trú tại 53/TQ, ấp Tân Quý, xã Tân Mỹ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre) và phòng trọ anh Đỗ Đức L (sinh năm 1996, đăng ký th ờng trú tại thôn Lau Chảy, xã Liêm Thuận, huyện Thanh Liên, tỉnh Hà Nam). Ân dùng thanh sắt bẻ khóa, dắt trộm xe mô tô AirBlade biển số 49B1-260.62 của anh Đỗ Đức L mang ra ngoài cổng giao cho Tâm. Ân tiếp tục lẻn vào khu trọ dùng thanh sắt bẻ khóa và dắt xe mô tô Vision biển số 71C2-370.38 của ch Huyền mang ra tr ớc cổng. Ân khởi động xe mô tô Vision biển số 71C2-370.38 nh ng xe này không nổ máy. Lúc này Tú điều khiển xe Future, Tâm điều khiển xe mô tô hiệu AirBlade biển số 49B1-260.62 thay nhau đẩy xe Vision (Ân ngồi trên xe) về nhà của Ph ớc. Lúc này, Ph ớc đi vắng, Nguy n Hoàng Huy đang ở tại nhà Ph ớc đi ra mở cửa cho Tú, Tâm, Ân đem 02 xe mô tô vừa trộm đ ợc của anh L, ch Huyền vào để tại nhà anh Ph ớc. Sau đó, Huy tiếp tục ngủ tại nhà Ph ớc còn Tú điều khiển xe mô tô Future (trộm cắp của ch Lang) chở Tâm đến thuê phòng tại khách sạn “Minh Khang” số 7/7, khu phố 1, ph ờng Tân Hiệp, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để ngủ. Lúc này, Ân dùng khóa mở cốp xe Vision biển số 71C2-370.38 của ch Huyền phát hiện thấy 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) và 01 số giấy tờ để trong cốp xe. Ân lấy 6.000.000đ (Sáu triệu đồng, các tờ tiền đều có mệnh giá 500.000đ), 01 giấy phép lái xe và 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguy n Công Tám (bạn ch Huyền) cất giấu trong túi quần của Ân đang mặc còn 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô Vision biển số 71C2-370.38 và căn c ớc công dân mang tên Đặng Th H Ân để lại trong cốp xe trên. Sau đó Ân ngủ lại tại nhà của anh Ph ớc cho đến khoảng 06 giờ sáng cùng ngày, Ân để xe mô tô Vision biển số 71C2-370.38 tại nhà anh Ph ớc còn Ân bỏ đi uống cà phê.
Khi Ân vừa bỏ đi ra ngoài nhà anh Ph ớc thì Tú điều khiển xe mô tô Future chở Tâm quay lại nhà Ph ớc. Tại đây, Tú, Tâm tháo biển số xe Future và tháo biển số xe mô tô AirBlade biển số 49B1-260.62 đánh tráo sang nhau để tránh b phát hiện. Sau đó, Tâm điều khiển xe AirBlade (gắn biển số xe 60B1-413.78) còn Tú điều khiển xe mô tô Future (gắn biển số 49B1-260.62) đến tiệm sửa xe của anh Nguy n Xuân Tây (sinh năm 1987, đăng ký th ờng trú tại 214T/4, khu phố 2, ph ờng Tân Biên, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) ở khu tái đ nh c khu phố 7, ph ờng Tân Biên, thành phố B, Đồng Nai và gửi lại nhờ anh Tây sửa chữa (anh Tây không biết xe này do trộm cắp mà có). Sau đó, Tú điều khiển xe mô tô Future (gắn biển 49B1-260.62) chở Tâm quay lại khách sạn “Minh Khang” thuê phòng để nghỉ.
Đến 14 giờ cùng ngày, trong lúc Tú, Tâm đang thuê phòng số 6-Khách sạn Minh Khang thì Công an ph ờng Tân Hiệp, thành phố B kiểm tra hành chính phát hiện xe mô tô Future, gắn biển số 49B1-260.62 do Tú, Ân trộm cắp của ch Lang vào ngày 05/10/2023 nên bắt giữ Tú, Tâm cùng tang vật. Sau đó, Công an ph ờng Tân Hiệp lập hồ s chuyển C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.
Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Huy thấy chìa khóa xe gắn vào ổ khóa xe mô tô Vision biển số 71C2-370.38 dựng tại nhà Ph ớc nên điều khiển chạy đi ra ngoài mua thức ăn. Sau đó, anh Ph ớc đi ch i về nhà thấy lực l ợng Công an đến làm việc liên quan đến việc Ân, Tú, Tâm trộm cắp xe mô tô. Anh Ph ớc điện thoại cho Huy tìm hiểu sự việc thì Huy nói Huy đang sử dụng xe mô tô Vision biển số 71C2-370.38. Anh Ph ớc nói cho Huy biết xe Huy đang sử dụng là do nhóm Ân trộm cắp, yêu cầu Huy mang xe về nhà Ph ớc giao nộp cho C quan Công an. Huy sợ b Công an bắt giữ nên điều khiển xe mô tô Vision biển số 71C2-370.38 (bên trong cốp xe có giấy chứng nhận đăng ký xe và căn c ớc công dân của ch Đặng Th H) chạy đến để tại nghĩa trang Giáo xứ Hà Nội, thuộc khu phố 6, ph ờng Tân Biên, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, Huy gọi điện báo lại cho anh Ph ớc và Ân biết đã để xe mô tô Vision biển số 71C2-370.38 khu vực Giáo xứ Hà Nội để anh Ph ớc trình báo Công an ph ờng Tân Biên đến thu giữ xe mô tô Vision biển số 71C2-370.38 và bàn giao C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý. Anh Nguy n Xuân Tây giao nộp C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B 01 xe mô tô Airblade, gắn biển số 60B1-413.78 do Tú, Tâm gửi tại tiệm sửa xe của anh Tây nhờ sửa chữa.
Đối với Nguy n A sau khi phạm tội đã bỏ trốn và b C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết đ nh truy nã. Đến ngày 26/6/2024, Ân b Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai bắt theo Quyết đ nh truy nã.
Ngày 23/5/2024, Phạm Nhật Tú và Nguy n Minh Tâm đã b Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” quy đ nh tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra, khi mới b bắt và giai đoạn điều tra Nguy n A không thừa nhận rủ rê Tú và Tâm tham gia 02 vụ trộm cắp nh đã nêu trên. Bản tự khai và biên bản hỏi cung về sau thì Ân đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nh đã nêu trên. Đối với số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) Ân lấy trộm trong cốp xe mô tô của ch Huyền, khi bỏ trốn Ân đã tiêu xài cá nhân hết.
* Vật chứng:
- 01 xe Future, gắn biển số 49B1-260.62.
- 01 xe mô tô Vision, biển số 71C2-370.38; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 71C2-370.38 và căn c ớc công dân mang tên Đặng Th H.
- 01 xe mô tô Airblade, gắn biển số 60B1-413.78.
- 01 USB ghi nhận di n biến vụ trộm ngày 05/10/2023 đ ợc trích xuất từ camera lắp đặt hiện tr ờng thuộc tổ 40, khu phố 3, ph ờng Trảng Dài, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- 01 USB ghi nhận di n biến vụ trộm ngày 06/10/2023 do Công an ph ờng H trích xuất từ camera lắp đặt tại khu vực cổng nhà trọ số 23/87, khu phố 12, ph ờng H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Toàn bộ vật chứng, tài sản nêu trên đã đ ợc giải quyết trong quá trình điều tra và tại Bản án số 250/2024/HS-ST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Đối với đoạn sắt chữ L (đoạn sắt dài khoảng 07cm, đầu dẹp, gắn vào cờ lê bằng sắt hình chữ L), 01 thanh sắt kích th ớc 30x01cm của Nguy n A sử dụng làm công cụ phạm tội; 01 giấy phép lái xe và 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguy n Công Tám (bạn ch Huyền), Ân khai đã vứt mất không rõ đ a điểm cụ thể nên không thu giữ đ ợc.
- Đối với xe mô tô hiệu Sirius biển số 60B1-413.78. Kết quả xác minh do bà Huỳnh Th Tuyết Nga mua và đứng tên chủ s hữu. Bà Nga khai đã bán xe mô tô hiệu Sirius biển số 60B1-413.78 vào năm 2019 cho 01 ng ời phụ nữ hiện không rõ lai l ch, không làm thủ tục sang tên. Nguy n Hoàng Huy khai xe mô tô hiệu Sirius biển số 60B1-413.78 là của Huy mua lại của ng ời thanh niên tên Phú (không rõ lai l ch) vào tháng 6/2023 để sử dụng, có giấy đăng ký, không làm thủ tục sang tên. Sau khi Ân m ợn xe trả cho Huy, Huy khai đã bán cho ng ời thanh niên tên Tr ờng (không rõ nhân thân lai l ch).
* Tại bản Kết luận đ nh giá tài sản số 535/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2023 của Hội đồng đ nh giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố B kết luận: 01 (Một) xe mô tô Future biển số 67K1-617.12 tr giá 21.693.000đ (Hai m i mốt triệu sáu trăm chín m i ba nghìn đồng).
* Tại bản Kết luận đ nh giá tài sản số 536/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2023 của Hội đồng đ nh giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố B kết luận:
+ 01 (Một) xe mô tô Vision biển số 71C2-370.38, tr giá 19.493.500đ (M ời chín triệu bốn trăm chín m i ba nghìn năm trăm đồng).
+ 01 (Một) xe mô tô biển số Airblade biển số 49B1-260.62, tr giá 24.594.000đ (Hai m i bốn triệu năm trăm chín m i bốn nghìn đồng).
Tổng tr giá là 44.087.500đ (Bốn m i bốn triệu không trăm tám m i bảy nghìn năm trăm đồng).
* Đối với Vũ Đình Ph ớc và Nguy n Hoàng Huy: Quá trình điều tra, Ph ớc khai có quen biết với Huy, Ph ớc. Huy biết chỗ để chìa khóa nhà Ph ớc và th ờng đến ch i và ngủ lại tại nhà Ph ớc. Ngày 05 và 06/10/2023, Ph ớc đến phòng trọ ch Mai Th Hằng (bạn gái Ph ớc) tại khu phố 10, ph ờng Tân Biên, thành phố B, Đồng Nai và ngủ lại tại phòng trọ của ch Hằng. Ph ớc hoàn toàn không biết Huy và nhóm Tú, Ân đến nhà Ph ớc ngủ lại và làm việc gì tại nhà của Ph ớc. Đến chiều ngày 06/10/2023, khi anh Ph ớc đi ch i về nhà thì C quan Công an đến nhà anh Ph ớc làm việc, anh Ph ớc mới biết nhóm Ân, Tú trộm cắp xe nên điện cho Huy thì biết đ ợc Huy đang sử dụng xe mô tô liên quan đến trộm cắp mà có và yêu cầu Huy mang xe về giao nộp Công an. Một lúc sau, Huy điện nói anh Ph ớc biết đã để xe ở khu vực nghĩa trang Giáo Xứ Hà Nội, ph ờng Tân Biên. Sau đó anh Ph ớc đã trình báo Công an đến thu hồi xe mô tô Huy sử dụng liên quan đến vụ trộm trên. Ch Mai Th Hằng khai, ngày 05 và 06/10/2023, Ph ớc có đến phòng trọ ch Hằng ch i và ngủ lại cho đến chiều ngày 06/10/2023 thì Ph ớc đi về nhà Ph ớc. Bà Nguy n Th Kim (mẹ của Ph ớc) khai, bà Kim ở chung nhà với Ph ớc. Bà bận bán cháo hàng ngày, tối mới về nhà và sinh hoạt ngủ d ới phòng gần bếp, còn Ph ớc ngủ một mình trên phòng khách, thi thoảng có bạn Ph ớc đến ch i ngủ lại nh ng bà không biết tên, nhân thân lai l ch. Tú khai: Ngày 05 và 06/10/2023, Huy, Ph ớc không liên quan đến các vụ trộm cắp tài sản. Sau khi Tú, Ân, Tâm trộm cắp xe mô tô mang về nhà Ph ớc thì Ph ớc vắng nhà. Ngày 06/10/2023, Huy có ra mở cửa cho Tú, Tâm, Ân dắt xe mô tô đã trộm cắp cất giấu trong nhà Ph ớc nh ng cả ba không nói cho Huy biết xe do trộm cắp mà có. Tâm khai: không quen biết với Huy và Ph ớc. Tâm có thấy 01 thanh niên mở cửa cho nhóm Tâm dắt xe vào nhà Ph ớc nh ng do trời tối không biết tên, nhận dạng đ ợc ng ời thanh niên mở cửa. Huy khai: Huy quen biết với Ph ớc, Ân, Tú. Ngày 05/10/2023 và 06/10/2023, Huy đến nhà Ph ớc ch i và ngủ lại nhà Ph ớc, Ph ớc đi vắng không có nhà. Chiều ngày 05/10/2023, Huy có cho Ân m ợn xe mô tô hiệu sirius 60B1-413.78 nh ng không biết Ân sử dụng làm ph ng tiện đi trộm cắp. Trong thời gian từ ngày 05/10/2013 đến khi biết nhóm Tú b bắt, Huy thấy nhóm Ân, Tú đi 03 xe mô tô hiệu Future (không rõ biển số), 01 xe Airblade (không rõ biển số) và 01 xe Vision biển số 71C2-370.38 đến để trong nhà anh Ph ớc nh ng Huy không biết các xe mô tô trên do nhóm Ân trộm cắp mà có. Cho đến chiều ngày 06/10/2023, trong lúc Huy đang ở nhà anh Ph ớc thấy xe mô tô Vision biển số 71C2-370.38 có gắn chìa khóa trên xe nên Huy sử dụng chạy ra ngoài mua thức ăn thì Ph ớc gọi điện báo cho Huy biết xe Huy đang sử dụng là do nhóm Ân trộm cắp mà có. Huy không bàn bạc, không biết việc nhóm Ân trộm cắp các xe mô tô trên. Sau đó, Huy đã mang xe mô tô Vision biển số 71C2-370.38 đến khu vực nghĩa trang Giáo xứ Hà Nội để tại đó và điện thoại nói anh Ph ớc trình báo C quan Công an đến thu hồi.
* Về trách nhiệm dân sự: B hại Nguy n Th L, Đặng Th H, Đỗ Đức L đã nhận lại tài sản, không yêu cầu b cáo bồi th ờng. Quá trình điều tra, ch Đặng Th H khai còn mất trộm 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Đặng Th H để trong cốp xe. Quá trình điều tra, Ân không thừa nhận đã lấy giấy phép lái xe mang tên Đặng Th H. Tú, Tâm, Huy khai: Không mở cốp xe, không biết và lấy bất cứ tiền, tài sản, đồ vật gì trong cốp xe mô tô Vision biển số 71C2-370.38. Ch Huyền và anh Tám không yêu cầu Ân và đồng phạm bồi th ờng số tiền b mất 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) và các giấy tờ b mất.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, b cáo đã nhận tội theo nh nội dung cáo trạng mô tả và không có ý kiến hay khiếu nại kết luận đ nh giá tài sản nêu trên. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của b cáo và không có ý kiến về kết luận đ nh giá tài sản.
Tại bản cáo trạng số 92/CT-VKSBH ngày 17/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố b cáo Nguy n A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy đ nh tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B giữ nguyên quan điểm truy tố và đề ngh Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm, xử phạt b cáo Nguy n A mức án từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù.
- Về trách nhiệm dân sự: B hại Nguy n Th L, Đặng Th H, Đỗ Đức L đã nhận lại tài sản, không yêu cầu b cáo bồi th ờng; quá trình điều tra, ch Đặng Th H khai còn mất trộm 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Đặng Th H để trong cốp xe nh ng b cáo Ân không thừa nhận đã lấy giấy phép lái xe mang tên Đặng Th H, các b cáo khác trong vụ án là Tú, Tâm, Huy cũng khai không mở cốp xe, không biết và không lấy bất cứ tiền, tài sản, đồ vật gì trong cốp xe mô tô Vision biển số 71C2-370.38, ch Huyền và anh Tám không yêu cầu Ân và đồng phạm bồi th ờng số tiền b mất 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) và các giấy tờ b mất nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Toàn bộ vật chứng, tài sản nêu trên đã đ ợc giải quyết trong quá trình điều tra và tại Bản án số 250/2024/HS-ST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên không xem xét, giải quyết.
Đối với Nguy n Xuân Tây không biết xe mô tô Airblade, gắn biển số 60B1-413.78 do Phạm Nhật Tú mang đến nhờ sửa chữa do phạm tội mà có nên C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý.
Đối với Vũ Đức Ph ớc, kết quả điều tra không đủ c sở chứng minh Ph ớc chứa chấp tài sản do ng ời khác phạm tội mà có nên C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý.
Đối với hành vi của Nguy n Hoàng Huy cho Ân m ợn xe mô tô hiệu sirius 60B1-413.78 (do Huy mua lại) sử dụng làm ph ng tiện đi trộm cắp tài sản. Kết quả điều tra xác đ nh: Huy không biết Ân sử dụng xe mô tô trên vào việc phạm tội. Huy không biết nhóm Ân, Tú, Tâm trộm cắp 03 xe mô tô nêu trên mang về nhà Ph ớc cất giấu là do trộm cắp mà có. Huy chỉ biết đ ợc xe mô tô Vision biển số 71C2-370.38 tr giá 19.493.500đ (M ời chín triệu bốn trăm chín m i ba nghìn năm trăm đồng) (do Huy lấy tại nhà anh Ph ớc để sử dụng) là do trộm cắp mà có và đã để lại tại khu vực nghĩa trang Giáo xứ Hà Nội để Ph ớc trình báo Công an đến thu hồi. Kết quả điều tra, không đủ căn cứ để chứng minh Huy đồng phạm trong vụ án trộm cắp tài sản, không đủ căn cứ chứng minh Huy biết xe mô tô Future biển số 67K-617.12 và xe mô tô Airblade biển số 49B1-260.62 tr giá 44.087.500đ (Bốn m i bốn triệu không trăm tám m i bảy nghìn năm trăm đồng) là do trộm cắp mà có. Do đó, không đủ căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với Huy về tội “Che giấu tội phạm”, “Không tố giác tội phạm” quy đ nh tại Điều 389, 390 Bộ luật Hình sự.
B cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho b cáo để b cáo sớm về gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh nh sau:
Về hành vi, quyết đ nh tố tụng trong hồ s vụ án: C quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra b cáo, ng ời tham gia tố tụng khác và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết đ nh tố tụng của C quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng đã thực hiện theo quy đ nh pháp luật.
Tại phiên tòa, b cáo Nguy n A đã khai nhận: Vào ngày 05/10/2023, tại tổ 40, khu phố 3, ph ờng Trảng Dài, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Phạm Nhật Tú và Nguy n A đã có hành vi trộm cắp của ch Nguy n Th L 01 chiếc xe mô tô Future biển số 67K1-617.12 tr giá 21.693.000đ (Hai mốt triệu sáu trăm chín m i ba nghìn đồng).
Vào ngày 06/10/2023, tại nhà trọ số 23/87, khu phố 12, ph ờng H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguy n A bàn bạc rủ Phạm Nhật Tú và Nguy n Minh Tâm thực hiện hành vi trộm cắp của ch Đặng Th H 01 xe mô tô Vision biển số 71C2-370.38 và của anh Đỗ Đức L 01 xe mô tô AirBlade biển số 49B1-260.62 với tổng tr giá 44.087.500đ (Bốn m i bốn triệu không trăm tám m i bảy nghìn năm trăm đồng). Ngoài ra Ân còn trộm cắp 6.000.000đ (Sáu triệu đồng), 01 giấy phép lái xe và 01 chứng minh nhân dân (mang tên Nguy n Công Tám) của anh Tám để trong cốp xe mô tô Vision biển số 71C2-370.38 nhờ ch Đặng Th H quản lý.
Nguy n A là ng ời rủ rê và 02 lần trộm cắp tài sản, với tổng tr giá là 71.780.500đ (Bảy m i mốt triệu bảy trăm tám m i nghìn năm trăm đồng) nên b cáo Ân phải ch u mức hình phạt cao h n mức hình phạt của Tú và Tâm.
Phạm Nhật Tú 02 lần trộm cắp tài sản, với tổng tr giá là 65.780.500đ (Sáu m i lăm triệu bảy trăm tám m i nghìn năm trăm đồng).
Nguy n Minh Tâm 01 lần trộm cắp tài sản, với tổng tr giá là 44.087.500đ (Bốn m i bốn triệu không trăm tám m i bảy nghìn năm trăm đồng).
Sau khi phạm tội, Nguy n A đã bỏ trốn và b C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết đ nh truy nã. Đến ngày 26/6/2024, Ân b Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai bắt giữ.
Riêng Phạm Nhật Tú và Nguy n Minh Tâm đã b Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xét xử vào ngày 23/5/2024, về tội “Trộm cắp tài sản” quy đ nh tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Lời khai nhận của b cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ s vụ án; lời khai của b hại; ng ời làm chứng. Nh vậy, đã có đủ c sở kết luận hành vi của b cáo Nguy n A phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy đ nh tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự nh nội dung bản cáo trạng số 92/CT-VKSBH ngày 17/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố là có c sở, đúng ng ời, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của b cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân đ ợc pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự, tr an xã hội tại đ a ph ng, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. B cáo đã 03 lần b Tòa án xử phạt về các hành vi c ớp và c ớp giật tài sản nh ng b cáo không biết lấy đó làm bài học tu d ỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn cố ý tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần xử phạt b cáo mức án nghiêm khắc, cách ly b cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục b cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với b cáo:
- Tình tiết tăng nặng: Phạm tội 02 lần trở lên (điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự).
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra b cáo Nguy n A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự).
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì b cáo còn có thể b áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm m i triệu đồng. Tuy nhiên, căn cứ vào tài liệu chứng cứ và lời khai tại phiên tòa cho thấy b cáo không có thu nhập và không có tài sản nào khác. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với b cáo.
Về trách nhiệm dân sự: B hại Nguy n Th L, Đặng Th H, Đỗ Đức L đã nhận lại tài sản, không yêu cầu b cáo bồi th ờng; quá trình điều tra, ch Đặng Th H khai còn mất trộm 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Đặng Th H để trong cốp xe nh ng b cáo Ân không thừa nhận đã lấy giấy phép lái xe mang tên Đặng Th H, các b cáo khác trong vụ án là Tú, Tâm, Huy cũng khai không mở cốp xe, không biết và không lấy bất cứ tiền, tài sản, đồ vật gì trong cốp xe mô tô Vision biển số 71C2-370.38, ch Huyền và anh Tám không yêu cầu Ân và đồng phạm bồi th ờng số tiền b mất 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) và các giấy tờ b mất nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Vật chứng của vụ án: Toàn bộ vật chứng, tài sản nêu trên đã đ ợc giải quyết trong quá trình điều tra và tại Bản án số 250/2024/HS-ST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên không xem xét, giải quyết.
Đối với Nguy n Xuân Tây không biết xe mô tô Airblade, gắn biển số 60B1-413.78 do Phạm Nhật Tú mang đến nhờ sửa chữa do phạm tội mà có nên C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý là phù hợp.
Đối với Vũ Đức Ph ớc, kết quả điều tra không đủ c sở chứng minh Ph ớc chứa chấp tài sản do ng ời khác phạm tội mà có nên C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý là phù hợp.
Đối với hành vi của Nguy n Hoàng Huy cho Ân m ợn xe mô tô hiệu sirius 60B1-413.78 (do Huy mua lại) sử dụng làm ph ng tiện đi trộm cắp tài sản. Kết quả điều tra xác đ nh: Huy không biết Ân sử dụng xe mô tô trên vào việc phạm tội. Huy không biết nhóm Ân, Tú, Tâm trộm cắp 03 xe mô tô nêu trên mang về nhà Ph ớc cất giấu là do trộm cắp mà có. Huy chỉ biết đ ợc xe mô tô Vision biển số 71C2-370.38 tr giá 19.493.500đ (M ời chín triệu bốn trăm chín m i ba nghìn năm trăm đồng) (do Huy lấy tại nhà anh Ph ớc để sử dụng) là do trộm cắp mà có và đã để lại tại khu vực nghĩa trang Giáo xứ Hà Nội để Ph ớc trình báo Công an đến thu hồi. Kết quả điều tra, không đủ căn cứ để chứng minh Huy đồng phạm trong vụ án trộm cắp tài sản, không đủ căn cứ chứng minh Huy biết xe mô tô Future biển số 67K-617.12 và xe mô tô Airblade biển số 49B1-260.62 tr giá 44.087.500đ (Bốn m i bốn triệu không trăm tám m i bảy nghìn năm trăm đồng) là do trộm cắp mà có. Do đó, không đủ căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với Huy về tội “Che giấu tội phạm”, “Không tố giác tội phạm” quy đ nh tại Điều 389, 390 Bộ luật Hình sự là phù hợp.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc Hội buộc b cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự s thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố b cáo Nguyễn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt b cáo Nguy n A mức án: 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/6/2024.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc Hội buộc b cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự s thẩm.
B cáo có mặt đ ợc kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. B hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày bản án đ ợc giao hoặc niêm yết theo quy đ nh pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Đồng Nai (1); - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (1); - Viện kiểm sát nhân dân TP.B (2); - Công an TP.B (2); - Thi hành án hình sự (5); - B cáo, đ ng sự (04); - L u VP - Hồ s vụ án (3). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hoàng Ph ng |