- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trân Văn T - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Văn T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 19 tháng 7 năm 2021.
- Căn cứ chính? Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2021/HS-ST Ngày: 27-10-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Trang Thái Châu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hồng Phúc;
2. Ông Lê Văn Rẽn.
- Thư ký phiên toà: Ông Trang Hoàng Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Nhiều - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 83/HS-ST ngày 04 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh ngày 15/4/1987 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp Long H, xã Long T, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn X và bà Lê Thị M; có vợ thứ nhất: Bùi Thị L (đã ly hôn) và vợ thứ hai Lê Thị Thiên D và 02 người con; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 19/7/2021 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 27/6/2021, tại khu vực ấp Long Hưng, xã Long Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, Công an huyện Bến Cầu phối hợp cùng lực lượng Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Mộc Bài tuần tra phát hiện Trần Văn T đang vận chuyển 02 túi nilon màu đen bên trong có chứa 500 bao thuốc lá điếu hiệu Jet từ Campuchia về Việt Nam. Qua kiểm tra phát hiện 14 túi nilon khác, bên trong chứa 3.500 bao thuốc lá điếu các loại được cất giấu tại nhiều vị trí xung quanh khu vực nhà kho của ông Nguyễn Thanh C, gần khu vực phát hiện Trần Văn T, nên tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang và tạm giữ vật chứng.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 17 giờ ngày 27/6/2021, Trần Văn T điện thoại cho 01 người đàn ông tên D (không rõ lai lịch) hiện đang sinh sống tại Campuchia đặt mua 4.000 bao thuốc lá điếu ngoại nhập gồm 3.000 bao hiệu Hero và 1.000 bao hiệu Jet với giá 56.500.000 đồng vận chuyển về Việt Nam bán lại cho người khác để hưởng lợi. Trần Văn T yêu cầu D bỏ số thuốc lá vào 16 túi nilon màu đen mang đến khu vực biên giới phía Campuchia giáp khu vực ấp Long Hưng, xã Long Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, T đi bộ từ nhà đến điểm hẹn nhận thuốc lá và trả tiền, sau đó T một mình vận chuyển thuốc lá về cất giấu xung quanh khu vực nhà kho của ông Nguyễn Thanh C, mỗi lượt vận chuyển 02 túi nilon chứa 500 bao thuốc lá điếu ngoại nhập. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang vận chuyển 02 túi nilon cuối cùng thì bị phát hiện và bắt giữ.
Ngoài lần bị bắt quả tang, T khai nhận vào ngày 26/6/2021 mua của người đàn ông tên D (không rõ lai lịch) 500 bao thuốc lá điếu ngoại nhập hiệu Hero với giá 6.750.000 đồng mục đích về bán lại cho Lê Thanh T, sinh năm 1985, ngụ ấp Long Hòa, xã Long Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
Vật chứng và xử lý vật chứng:
- 4.000 (bốn nghìn) bao thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất gồm 3.000 (ba nghìn) bao hiệu Hero và 1.000 (một nghìn) bao hiệu Jet.
- 16 (mười sáu) túi nilon màu đen, đã qua sử dụng.
Kê biên tài sản: Qua xác minh Trần Văn T không có tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Cầu không kê biên.
Đối với người đàn ông tên D do không rõ nhân thân lai lịch nên không làm việc được, khi nào làm rõ xử lý sau.
Đối với Lê Thanh T qua làm việc và đối chất, Tâm không thừa nhận việc thỏa thuận mua thuốc lá với Trần Văn T, ngoài lời khai của Trần Văn T không có cơ sở nào khác, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh không đề nghị xử lý.
Đối với ông Nguyễn Thanh C không biết việc Trần Văn T vận chuyển thuốc lá từ Campuchia về Việt Nam và cất giấu xung quanh khu vực nhà kho của ông nên không đề nghị xử lý.
Tại bản cáo trạng số: 84/CT-VKSBC ngày 01 tháng 10 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu đã truy tố Trần Văn T về tội “Buôn bán hàng cấm” được qui định tại điểm e khoản 2 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm e khoản 2, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 (sáu) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”; phạt bổ sung từ 10.000.000 (mười triệu) đồng đến 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng.
Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng theo qui định pháp luật.
Bị cáo Trần Văn T thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, bào chữa.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Trần Văn T xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bến Cầu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Định tội danh và điều luật áp dụng: Do muốn có tiền tiêu xài, Trần Văn T mua 4.000 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu các loại từ Campuchia mang về Việt Nam cất giấu nhằm mục đích bán lại để hưởng lợi thì bị phát hiện hồi 21 giờ 30 phút, ngày 27/6/2021 tại khu vực ấp Long Hưng, xã Long Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Do đó hành vi của Trần Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” được qui định tại điểm e khoản 2 Điều 190 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số: 84/CT-VKSBC ngày 01 tháng 10 năm 2021, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo là có căn cứ.
Đánh giá về mức độ hành vi phạm tội: Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bản thân của bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo có sự am hiểu, nắm rõ đường đi lại giữa Việt Nam và Campuchia, lợi dụng đêm tối nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng, bị cáo đã vận chuyển 4.000 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu từ Campuchia về Việt Nam, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Do đó, cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự để giáo dục răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo T không phải chịu tình tiết tăng nặng nào được qui định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra, truy tố, bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có cha ruột là ông Trần Văn X tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế và mẹ là bà Lê Thị M tham gia dân công hỏa tuyến. Có bác ruột Trần Duy P liệt sĩ được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về áp dụng hình phạt: Tại phiên toà, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo T là có căn cứ nên chấp nhận. Bởi lẽ, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, bị cáo biết mua bán thuốc lá điếu ngoại nhập lậu từ Campuchia mang về Việt Nam là vi phạm pháp luật, nhưng vì hám lợi bất chấp thực hiện với lỗi cố ý. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội, biết chấp hành pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, cần phạt bổ sung bị cáo T một khoản tiền để sung ngân sách nhà nước.
Đối với người đàn ông tên D bán thuốc lá điếu cho bị cáo tại sống tại Campuchia do không rõ nhân thân lai lịch nên chưa làm việc được, khi nào làm rõ xử lý sau.
Đối với Lê Thanh T qua làm việc và đối chất, Lê Thanh T không thừa nhận việc thỏa thuận mua thuốc lá điếu với Trần Văn T. Ngoài lời khai của Trần Văn T không có cơ sở nào khác, nên không có cơ sở để xem xét xử lý.
Đối với ông Nguyễn Thanh C không biết việc Trần Văn T vận chuyển thuốc lá từ Campuchia về Việt Nam và cất giấu xung quanh khu vực nhà kho của ông Ca nên không xử lý.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét thấy:
- Đối với 4.000 (bốn nghìn) bao thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất gồm 3.000 (ba nghìn) bao hiệu Hero và 1.000 (một nghìn) bao hiệu Jet là hàng cấm và 16 (mười sáu) túi nilon màu đen (đã qua sử dụng) là tang vật phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm e khoản 2, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 19 tháng 7 năm 2021.
Phạt bổ sung bị cáo Trần Văn T số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng, sung vào ngân sách nhà nước.
2. Vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 4.000 (bốn nghìn) bao thuốc lá điếu {gồm 3.000 (ba nghìn) bao hiệu Hero và 1.000 (một nghìn) bao hiệu Jet} và 16 (mười sáu) túi nilon màu đen, đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận, nhận vật chứng ngày 05/10/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn T được quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án này được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.TANDTC (vụ 1) - TAND cấp cao tại TP. HCM; - VKSND cấp cao tại TP.HCM - Phòng KTNV TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Bến Cầu; - Công an huyện Bến Cầu; - Nhà tạm giữ; - Chi cục THADS huyện Bến Cầu; - Phòng lý lịch Sở tư pháp tỉnh; - Phòng PV06 Công an tỉnh Tây Ninh; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trang Thái Châu |