vanban.org

Bản án 88/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nhữ Hoàng D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về điều luật áp dụng và hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Nhữ Hoàng D 08 (T2) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/9/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nhữ Hoàng D - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nhữ Hoàng D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ các vật chứng nói; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2026/HS-ST.
Ngày: 02/6/2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quốc Văn và bà Trịnh Thị Thanh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Trịnh Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Quảng Ngã tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Cẩm Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 6 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2026/TLST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2026 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2026/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:

Nhữ Hoàng D, sinh ngày 03 tháng 6 năm 1996, tại tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: 038096028063; Nơi đăng kí thường trú: Khu phố A, xã V, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện tại: Đường T, tổ B, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nhữ Hoàng K, sinh năm: 1972 và bà Nguyễn Thị Q, sinh năm: 1976; Bị cáo có vợ là Tạ Khánh L (đã ly hôn) và có 02 người con sinh năm 2016, 2019; tiền sự: Không.

Tiền án: 01 tiền án: Tại bản án số 18/2022/HS-PT ngày 28/09/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum (cũ) xử phạt bị cáo Nhữ Hoàng D 14 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 28 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 28/09/2022. Ngày 28/11/2024, bị cáo chấp hành xong thời gian thử thách của án treo (được rút ngắn 02 tháng) và sinh sống tại địa phương, tính đến ngày phạm tội mới chưa được xóa án tích.

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Trại tạm giam số 2 tỉnh Quảng Ngãi từ ngày 02/9/2025, có mặt tại phiên toà.

- Người làm chứng:

1. Anh Hồ Khánh L1, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số G N, phường K, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.

2. Chị Y H (Y M), sinh năm 2007; Địa chỉ: Thôn Kon Tum K, phường K, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.

3. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 2000; Địa chỉ: Ấp B, xã B, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

4. Anh Hồ Sỹ C, sinh năm 1975; Địa chỉ: Số B Đ, phường T, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

5. Chị Võ Trần Hà D1, sinh năm 2010;

Đại diện hợp pháp của chị Võ Trần Hà D1: Ông Võ Duy K1 là bố ruột. Cùng địa chỉ: Thôn B, xã S, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 01/09/2025, Nhữ Hoàng D, sử dụng chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 14 PRO MAX, gọi bằng ứng dụng Messenger cho 01 (một) người thanh niên tên T (không biết rõ nhân thân, lai lịch của người đó) đặt mua ma túy loại kẹo và ma túy loại khay với số tiền là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) và người này hẹn gặp Nhữ Hoàng D ở sân vận động K2, thuộc phường K, tỉnh Quảng Ngãi để lấy ma túy thì D đồng ý. Sau đó, Nhữ Hoàng D bắt xe taxi (hãng S, không nhớ rõ đặc điểm, biển số xe) đi từ nhà đến sân vận động K2 để lấy ma túy; lúc đến nơi D đi xuống xe taxi rồi đi bộ vào khu đất trống đứng chờ, một lúc sao có một người thanh niên đi xe mô tô (loại xe tay ga, nhưng do trời tối nên Nhữ Hoàng D không biết hãng gì và biển số xe là bao nhiêu) đến đưa ma túy cho Nhữ Hoàng D và D trả số tiền là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) cho người thanh niên đó. Khi lấy ma túy xong, Nhữ Hoàng D bỏ một phần ma túy loại khay vào bên trong 01 (một) tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 2.000 đồng (Hai nghìn đồng) và số ma túy loại khay còn lại Nhữ Hoàng D quấn vào bên trong 01 (một) chiếc khẩu trang màu trắng cùng ma túy loại kẹo; Nhữ Hoàng D cất tất cả số ma túy trên vào bên trong chiếc túi quần đùi màu trắng bên trái. Sau đó, Nhữ Hoàng D rủ anh Hồ Khánh L1 đến quán K3 (địa chỉ số H đường T, phường K, tỉnh Quảng Ngãi) để hát thì L1 đồng ý. Khi đi vào phòng hát số P.02, Nhữ Hoàng D lấy ma túy ở túi quần ra rồi đi vào nhà vệ sinh dùng chiếc quẹt lửa mang theo để hơ nóng ma túy bên trong tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 2.000 đồng (Hai nghìn đồng) rồi lấy quẹt lửa cán mịn số ma túy trong tờ tiền. Sau đó, Nhữ Hoàng D gọi thêm ba nhân viên nữ phục vụ vào phòng hát. Đến khoảng 21 giờ 50 phút cùng ngày, Y H (Tên thường gọi Y M là nhân viên rót bia) đi vào phòng hát. Sau đó, Nguyễn Thị H1 (nhân viên rót bia) đi vào, lúc này Nhữ Hoàng D lấy từ trong chiếc túi quần của mình 01 (một) viên nén màu hồng bỏ vào miệng nuốt, còn 01 (một) viên nén màu hồng Nhữ Hoàng D đưa cho M, D nói “nè” và nói đêm nay chơi cho xõa, cho đã, chơi tẹt ga hết mình cho hết số hàng này trong tối nay. Sau đó Nhữ Hoàng D để 01 (một) tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 2.000 đồng (Hai nghìn đồng) có chứa ma túy loại khay để trên màn hình cảm ứng sử dụng để chọn bài hát trong phòng hát số P.02 và số ma túy còn lại Nhữ Hoàng D để trong 01 (một) khẩu trang màu trắng bên trong có 01 (một) bì nilông (loại túi zip) có viền màu đỏ, bên trong bì nilông có chứa chất tinh thể rắn màu trắng, Nhữ Hoàng D mang để dưới ghế sô pha cạnh cửa ra vào, vì trên bàn lúc đó có nước lọc, bia, nước ngọt, đá và nhiều thứ khác nên D sợ bị ướt. Sau đó Nhữ Hoàng D đi vào lại phòng hát, Nhữ Hoàng D sử dụng ống hút trong suốt bằng nhựa lấy một phần ma túy để ở trên tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 2.000 đồng để lên tay phải của D rồi dùng mũi hít ma túy. L1 thấy vậy cũng đi lên dùng ống hút lấy một phần ma túy bỏ lên tay rồi dùng mũi hít. D lấy tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 2.000 đồng có chứa ma túy khay để xuống bàn, D dùng ống hút lấy một phần ma túy đặt lên tay của Y H và Nguyễn Thị H1, sau đó Y H và H1 dùng mũi hít ma túy. Khoảng 20 phút sau, D tiếp tục đưa ma túy khay lần lượt cho Y H, Nguyễn Thị H1 và Hồ Khánh L1 hít. Một lúc sau, Hồ Sỹ C (Là anh trai của L1) đi vào phòng hát của D ngồi chơi được khoảng 10 phút thì Võ Trần Hà D1 (nhân viên rót bia) đi vào phòng hát của D. C và D1 uống được khoảng 03 (ba) ly bia thì cùng nhau ra ngoài phòng hát (lúc C và D1 ở trong phòng hát không thấy D và các đối tượng còn lại sử dụng ma túy). Đến khoảng 23 giờ 50 phút cùng ngày, Công an phường K, tỉnh Quảng Ngãi kiểm tra phát hiện, bắt quả tang về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tiến hành thu giữ các vật chứng có liên quan. Tại đây D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận giám định số: 984/KL-KTHS ngày 06/09/2025 của Phòng K4 Công an tỉnh Q, kết luận: Mẫu chất bột màu trắng được đựng trong 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000VNĐ được gấp lại (ký hiệu M1) được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS4, mã số 24561010 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng là 0,164 gam. Mẫu chất bột màu trắng bám dính bên trong 01 (một) đoạn ống hút nhựa trong suốt dài 21cm, 1 đầu nhọn (ký hiệu M2.1) được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS2, mã số 24087852 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng là 0,014 gam. Mẫu chất bột màu trắng bám dính bên trong 01 (một) đoạn ống hút nhựa trong suốt dài 9,5cm, 1 đầu nhọn (ký hiệu M2.2) được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS2, mã số 24087852 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, chất bột trắng dạng vết nên không xác định được khối lượng. 02 (hai) đoạn ống hút nhựa trong suốt dài 10 cm, được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS2, mã số 24087852 gửi giám định không tìm thấy chất ma túy, không xác định được khối lượng do không tìm thấy chất bám dính. Mẫu chất rắn màu trắng bên trong 01 (một) bì nilong (loại túi zip) có viền màu đỏ, kích thước (2,5x3)cm, để trong 01 (một) khẩu trang màu trắng gấp lại (ký hiệu M3) được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS3, mã số 24280569 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng là 0,466 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 968/KL-KTHS ngày 11/09/2025 của Phòng K4 Công an tỉnh Q, kết luận: Dữ liệu trích xuất trong 01 (một) điện thoại di động, dạng cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE 14 Promax, màu vàng, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, số IMEI1: 353885669372903, số IMEI2: 353885668487727, bên trong thân máy không chứa thẻ sim, từ ngày 26/08/2025 đến ngày 02/09/2025: Dữ liệu tin nhắn SMS, có 55 tin nhắn. (Phụ lục kèm theo); Không tìm thấy dữ liệu nhật ký cuộc gọi và dữ liệu tin nhắn trong ứng dụng Messenger Facebook, Z, T1.

Tại bản kết luận giám định số: 1046/KL-KTHS ngày 03/10/2025 của Phòng K4 Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu nước tiểu ghi thu của các đối tượng Hồ Khánh L1; Nhữ Hoàng D; Y M (Y) và Nguyễn Thị H1 gửi giám định có tìm thấy thành phần chất ma túy loại: MDMA và Ketamine. Qua kiểm tra Hồ Sỹ C và Võ Trần Hà D1 âm tính với tất cả các chất ma túy.

Tại Bản Cáo trạng số 87/CT-VKSKV7 ngày 06/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Nhữ Hoàng D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi; bị cáo không ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Qua tranh tụng tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 7 - Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng, quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Nhữ Hoàng D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025: Xử phạt bị cáo Nhữ Hoàng D từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,610 gam ma túy còn lại sau giám định và tất cả các vật chứng phục vụ cho việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được thu giữ và đựng trong các túi niêm phong theo như biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 21/04/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 – Quảng Ngãi.

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 PRO MAX, màu vàng, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong. Được niêm phong trong túi niêm phong.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai và vi phạm pháp luật, bị cáo hối hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và nuôi con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Quảng Ngãi và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với sự vắng mặt của những người làm chứng. Xét thấy, những người làm chứng đã có lời khai tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án và căn cứ định tội.

Tại phiên tòa bị cáo Nhữ Hoàng D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 20 giờ 00 phút, gày 01/09/2025, bị cáo Nhữ Hoàng D đã mua ma túy của một người đàn ông tên T (chưa rõ nhân thân lai lịch), ở gần sân vận động, thuộc phường K, tỉnh Quảng Ngãi, sau đó đem đến quán K3 để tổ chức sử dụng. Đến khoảng 23 giờ 50 cùng ngày, tại phòng hát số 02 quán K3, lực lượng Công an phường K bắt quả tang bị cáo Nhữ Hoàng D đã có hành vi chuẩn bị và cung cấp chất ma túy, công cụ, địa điểm để sử dụng trái phép chất ma tuý cùng với Hồ Khánh L1, Y H (Y M) và Nguyễn Thị H1. Bị cáo Nhữ Hoàng D đã có hành vi tổ chức cho Hồ Khánh L1, Y H (Y M) và Nguyễn Thị H1 sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Nhữ Hoàng D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Đối với hai người trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Do tác hại của ma túy gây nguy hại lớn cho xã hội nên Bộ luật Hình sự đã quy định hình phạt nghiêm khắc đối với các tội phạm về ma túy. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ muốn thỏa mãn cho nhu cầu của bản thân mà bị cáo đã bất chấp thực hiện hành vi tổ chức, cung cấp chất ma túy cho người khác sử dụng trái phép. Hành vi đó của bị cáo có thể gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương; đặc biệt là tình hình tội phạm về ma túy hiện nay xảy ra ngày càng gia tăng. Vì vậy, cần phải xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý và chưa được xoá án tích.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra bị cáo có bà ngoại là bà Nguyễn Thị L2 được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất và có ông nội là ông Nhữ Ngọc C1 được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được áp dụng để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

- Về tình tiết tăng nặng: Ngày 28/09/2022, bị cáo Nhữ Hoàng D bị Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum (cũ) xử phạt 14 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 28 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 28/09/2022. Ngày 28/11/2024, bị cáo chấp hành xong thời gian thử thách của án treo và sinh sống tại địa phương, tính đến ngày phạm tội mới bị cáo chưa được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Hình sự nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” là tình tiết tăng nặng quy đinh tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

- Đối với các mẫu vật được thu giữ và hoàn trả sau giám định gồm: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng; 01 (một) đoạn ống hút nhựa trong suốt dài 21cm, 01 đầu nhọn; 01 (một) đoạn ống hút nhựa trong suốt dài 9,5cm, 01 đầu nhọn; 02 (hai) đoạn ống hút nhựa trong suốt dài 10cm; 01 (một) khẩu trang màu trắng; 01 (một) bì ni lông loại túi zip có viền màu đỏ, kích thước (2,5x03)cm; 02 (hai) túi niêm phong bằng nilong đựng mẫu vật và mẫu vật gửi giám định sau khi đã sử dụng một phần mẫu vật để giám định, còn lại hoàn trả cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q và được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong Mã số: PS2 24058312, bên ngoài túi niêm phong có 03 (ba) hình dấu tròn có nội dung "*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ*CÔNG AN TỈNH QUẢNG NGÃI" và có các chữ ký ghi tên của những người tham gia niêm phong tại mép dán. Mẫu vật còn lại được dựng trong 02 (hai) túi ni lộng, có tổng khối lượng đã trừ bì là 0,610 gam và 01 (một) quẹt ga màu xanh, được để trong một túi niêm phong ký hiệu NS4, mã số 24561016. Xét thấy, ma túy là chất Nhà nước cấm tàng trữ trái phép và những vật dụng là công cụ, phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng hoặc có giá trị không đáng kể nên căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ các vật chứng nói trên.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động, dạng cảm ứng nhãn hiệu IPHONE 14 Promax, màu vàng, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong. Được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS3 24011784 là tài sản của Nhữ Hoàng D. Ngày 01/9/2025, bị cáo Nhữ Hoàng D sử dụng chiếc điện thoại này để liên lạc với người đàn ông tên T để mua ma túy về tổ chức sử dụng nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Một số nội dung có liên quan:

- Đối với 0,610 gam ma túy, loại Ketamine được thu giữ tại hiện trường nơi bị cáo Nhữ Hoàng D tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Xét thấy, số ma túy thu giữ còn lại không nhiều, chưa đủ định lượng tối thiểu theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự mặt khác hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo vẫn đang diễn ra và Cơ quan Cảnh sát điều tra không chứng minh được bị cáo để số mà túy trên là sử dụng vào mục đích khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý bị cáo Nhữ Hoàng D về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

- Đối với người đàn ông tên T, cao khoảng 1,60 mét, da trắng, tóc ngắn, dáng người gầy, tay chân xăm trổ (chưa rõ nhân thân lai lịch, địa chỉ cụ thể), theo lời khai của D thì T là người bán ma túy cho D, Cơ quan điều tra đã thu thập các tài liệu liên quan, tiến hành xác minh tại công an phường K nhưng hiện tại chưa xác định được nhân thân lai lịch, nên chưa thể xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q tiếp tục xác minh khi xác định được đối tượng sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

- Đối với hành vi sử dụng ma túy của Hồ Khánh L1, Y H, Nguyễn Thị H1 là các đối tượng được D rủ sử dụng ma túy. Căn cứ tài liệu điều tra xác định được hành vi của các đối tượng không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã lập biên bản vi phạm hành chính, đồng thời ra Quyết định xử phạt hành chính và chuyển toàn bộ hồ sơ tài liệu liên quan đến Công an phường K, tỉnh Quảng Ngãi, Công an xã B, tỉnh An Giang, để áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nhữ Hoàng D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Xử phạt: Bị cáo Nhữ Hoàng D 08 (T2) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/9/2025.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ Các mẫu vật được thu giữ và hoàn trả sau giám định được đựng trong 01 (một) túi niêm phong mã số: PS2 24058312, bên ngoài túi niêm phong có 03 (ba) hình dấu tròn có nội dung "*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ*CÔNG AN TỈNH QUẢNG NGÃI" và có các chữ ký ghi tên của những người tham gia niêm phong tại mép dán. Mẫu vật còn lại đựng trong 02 (hai) túi ni lông, có tổng khối lượng đã trừ bì là 0,610 gam.

+ 01 (một) quẹt ga màu xanh, được để trong một túi niêm phong ký hiệu NS4, mã số 24561016, bằng nilông, dán kín, có chữ ký ghi rõ họ tên của những người liên quan và 01 (một) hình dấu tròn màu đỏ có dòng chữ "*CÔNG AN TỈNH QUẢNG NGÃI *CÔNG AN PHƯỜNG KON TUM".

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động, dạng cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE 14 Promax, màu vàng, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong. Được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS3 24011784 dán kín, trên mặt túi có ghi chữ "986/KL-KTHS, 11/9/2025" và chữ ký ghi họ tên của giám định viên, điều tra viên.

(Các vật chứng có đặc điểm theo như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/4/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 7 - Quảng Ngãi).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nhữ Hoàng D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (02/6/2026) bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm. Nơi nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Ngãi;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;

- VKSND KV 7 - Quảng Ngãi;

- Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Quảng Ngãi;

- Trại TG số 2 - CA tỉnh Quảng Ngãi;

- Phòng THADS KV 7 - Quảng Ngãi;

- Bị cáo;

- Sơ Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Hữu Tiến

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hữu Tiến

Cỡ chữ