vanban.org

Bản án 88/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 18/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Giao bị cáo Phạm Văn Tr cho Ủy ban nhân dân xã Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Châu Th + ĐP - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2022/HS-ST
Ngày 18/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Bà Vũ Thị Hảo

+ Bà Nguyễn Ngọc Cúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Quang Tuyến – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mến – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2022 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Phạm Châu Th, sinh năm 1990, tại: Long An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp G, xã B huyện M, tỉnh Long An; Nơi cư trú: Ấp 7, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N (còn sống) và bà Trà Xuân H (còn sống), có vợ Trần Thị Thảo N (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2018; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/01/2022, chuyển tạm giam từ ngày 28/01/2022 đến nay (Có mặt).

2. Phạm Văn Tr, sinh năm 1998, tại: Long An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp G, xã B, huyện M, tỉnh Long An; Nơi cư trú: Ấp 7, xã T huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N (còn sống) và bà Trà Xuân H (còn sống); có vợ Nguyễn Thị H và 01 con sinh ngày 22/8/2021; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/01/2022 đến ngày 27/01/2022 thì được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1999; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp G, xã B, huyện M, tỉnh Long An (có mặt).

- Người làm chứng:

+ Ông Trà Thanh D, sinh năm 1978

Địa chỉ: Tổ 8, Ấp 7, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

+ Bà Trần Thị Kim T, sinh năm 1983

Địa chỉ: Tổ 8, Ấp 7, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 19/01/2022, Công an huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai phối hợp Công an xã Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tiến hành kiểm tra hành chính hộ ông Trà Thanh Dũng tại Ấp 7, xã Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai phát hiện, bắt quả tang Phạm Châu Th đang kiểm đếm 72 cây (720 bao) thuốc lá điếu hiệu Hero và 134 cây (1.340 bao) thuốc lá điếu hiệu Jet. Tất cả số thuốc lá này không có hóa đơn, chứng từ.

Quá trình điều tra xác định nguồn gốc thuốc lá như sau: ngày 17/01/2022, khi Phạm Châu Th đang ở xã Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai thì được một người thanh niên không rõ lai lịch đặt mua thuốc lá nhậu lậu loại Jet và Hero số lượng khoảng 200 cây (2.000 bao). Th bàn với em là Phạm Văn Tr khi Tr đi mua trái cây ở tỉnh Long An về xã Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai bán thì Th đi theo để mua thuốc lá điếu nhập lậu ở cửa khẩu Bình Hiệp thuộc huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An về bán lại kiếm lời, sau khi bán xong số thuốc lá thì Th sẻ trả tiền công, tiền xe cho Tr thì Tr đồng ý. Ngày 18/01/2022, Tr chở Th đến gần cửa khẩu Bình Hiệp thuộc huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An thì Th tự đi mua thuốc lá lậu, còn Tr đi mua trái cây. Đến tối cùng ngày, Th đứng ở đường chờ người chở thuốc lá từ Campuchia về Việt Nam ngang qua thì gọi vào mua. Sau đó, Th đã mua được 72 cây (720 bao) thuốc lá hiệu Hero và 134 cây (1.340 bao) thuốc lá điếu hiệu Jet của 02 người Th niên không rõ lai lịch. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Th cất giấu số thuốc lá trên xe vào trong ô tô tải 62C-165.83 và chở về nhà vợ chồng ông Trà Thanh D và bà Trần Thị Kim T cất giấu.

* Tang vật thu giữ:

+ 720 bao thuốc lá điếu hiệu Hero và 1.340 bao thuốc lá điếu hiệu Jet, tổng cộng: 2.060 bao.

+ 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO Reno 2F của Phạm Châu Th.

+ 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO Reno4 Pro của Phạm Văn Tr.

+ 01 xe ô tô tải hiệu Hyundai, biển số biển số 62C-165.83 của Phạm Văn Tr.

Tại Văn bản số 18/CVTĐ-2022-HHTLVN ngày 27/01/2022 của Hiệp Hội thuốc lá Việt Nam kết luận:

1. 02 mẫu cây thuốc lá điếu có nhãn hiệu Jet và Hero do cơ quan cung cấp là thuốc lá điếu nhập lậu.

2. Theo pháp luật hiện hành của Nhà nước, tất cả các loại thuốc lá điếu sản xuất, lưu thông hợp pháp trên thị trường nước ta (kể cả thuốc lá nhập khẩu) đều có dán tem do Bộ tài chính ban hành sử dụng trên từng bao thuốc lá và có in cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh và bằng tiếng Việt Nam trên 02 mặt trước và sau của bao thuốc lá.

3. Nghị định 98/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ về: “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” tại Chương II, mục 2, Điều 8 đã nêu rõ: “Hành vi sản xuất, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ giao nhận hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu”.

Ông Trà Thanh D và bà Trần Thị Kim T không biết Th và Tr đưa số thuốc lá trên về nhà mình và không liên quan đến việc buôn bán hàng cấm của Th và Tr.

Đối tượng đặt mua thuốc lá từ Th và đối tượng bán thuốc lá cho Th chưa xác định được họ tên, địa chỉ. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Cáo trạng số 85/CT-VKSVC ngày 15/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo Phạm Châu Th, Phạm Văn Tr về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Bị cáo Phạm Châu Th: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190, các Điều 17, 38, điểm s khoản 1, khoản 2 (phạm tội lần đầu, có ông nội là người có công với cách mạng) Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Phạm Châu Th phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Xử phạt bị cáo Phạm Châu Th mức án từ 14 (mười bốn) đến 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2022.

+ Bị cáo Phạm Văn Tr: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190, các Điều 17, điểm s khoản 1, khoản 2 (phạm tội lần đầu, có ông nội là người có công với cách mạng; bị cáo được Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Long An tặng danh hiệu Chiến sĩ tiên tiến) Điều 51, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Phạm Văn Tr phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Tr mức án từ 12 (mười hai) đến 14 (mười bốn) tháng tù, cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách.

- Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị :

+ Tịch thu tiêu hủy số thuốc lá điếu nhập lậu gồm 72 cây (720 bao) thuốc lá điếu hiệu Hero và 134 cây (1.340 bao) thuốc lá điếu hiệu Jet.

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe ô tô tải thùng biển số 62C-165.83, số máy D4DB9403692, số khung KMFGA17BPAC122744 và 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno2F.

+ Trả lại cho bị cáo Phạm Văn Tr 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno4F.

- Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nói lời sau cùng:

- Bị cáo Th: Bị cáo đã biết lỗi, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.

- Bị cáo Tr: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo nhận lại xe ô tô để bị cáo về nuôi con nhỏ và ông nội già yếu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, đã có đủ cơ sở kết luận:

Với mục đích mua thuốc lá điếu về để bán kiếm lời, ngày 18/01/2022, Tr chở Th đến gần cửa khẩu Bình Hiệp thuộc huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An thì Th tự đi mua thuốc lá lậu, còn Tr đi mua trái cây. Đến tối cùng ngày, Th đứng ở đường chờ người chở thuốc lá từ Campuchia về Việt Nam ngang qua thì gọi vào mua. Sau đó, Th đã mua được 72 cây (720 bao) thuốc lá hiệu Hero và 134 cây (1.340 bao) thuốc lá điếu hiệu Jet không có hóa đơn, chứng từ của 02 người Th niên không rõ lai lịch.

Các bị cáo Th, Tr đã buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến 3.000 bao nên hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với một số hàng hóa nên cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Bị cáo Phạm Châu Th: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu; có ông nội Phạm Văn Dề được Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Trung Nam – Bộ tặng Bằng khen và được Hội đồng Nhà nước tặng Huân chương Kháng chiến Hạng Nhất là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

+ Bị cáo Phạm Văn Tr: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu; bị cáo được Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Long An tặng Danh hiệu Chiến sĩ tiên tiến; có ông nội Phạm Văn Dề được Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Trung Nam – Bộ tặng Bằng khen và được Hội đồng Nhà nước tặng Huân chương Kháng chiến Hạng Nhất là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về vai trò của các bị cáo

Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ.

Bị cáo Th là người chủ mưu, thực hành, liên lạc, thực hiện việc mua bán nên phải chịu trách nhiệm cao hơn trong vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Bị cáo Tr: Do cùng đường đi mua trái cây về bán nên bị cáo Tr cho bị cáo Th để thuốc lá trên xe để bị cáo Th cho tiền công, bị cáo Tr không liên lạc, mua bán, kiểm đếm thuốc lá điếu. Xét vai trò của bị cáo Tr là đồng phạm giúp sức với vai trò không đáng kể, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện để hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung về án treo; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo nên Hội đồng xét xử xét thấy xử phạt bị cáo hình phạt chính là xử phạt tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và cũng đủ răn đe, phòng ngừa tội phạm.

Xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy số thuốc lá điếu nhập lậu gồm 72 cây (720 bao) thuốc lá điếu hiệu Hero và 134 cây (1.340 bao) thuốc lá điếu hiệu Jet.

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe ô tô tải thùng biển số 62C-165.83, số máy D4DB9403692, số khung KMFGA17BPAC122744 và 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno2F (màu xanh).

+ Trả lại cho bị cáo Phạm Văn Tr 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno4F (màu đen).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Ông Trà Thanh D và bà Trần Thị Kim T không biết Th và Tr đưa số thuốc lá trên về nhà mình và không liên quan đến việc buôn bán hàng cấm của Th và Tr nên không có căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật đối với ông D và bà T.

Kiến nghị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ để xử lý đối với đối tượng đặt mua thuốc lá từ Th và đối tượng bán thuốc lá cho Th.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố các bị cáo Phạm Châu Th, bị cáo Phạm Văn Tr phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Căn cứ các Điều 17, 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phạm Châu Th 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2022.

Căn cứ các Điều 17, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phạm Văn Tr 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Văn Tr cho Ủy ban nhân dân xã Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Người được hưởng án treo có thể bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo nếu đang trong thời gian thử thách mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên.

2. Xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy số thuốc lá điếu nhập lậu gồm 72 cây (720 bao) thuốc lá điếu hiệu Hero và 134 cây (1.340 bao) thuốc lá điếu hiệu Jet.

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe ô tô tải thùng biển số 62C-165.83, số máy D4DB9403692, số khung KMFGA17BPAC122744 và 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno2F (màu xanh).

+ Trả lại cho bị cáo Phạm Văn Tr 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno4F (màu đen).

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Châu Th, Phạm Văn Tr mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ